Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm có được áp dụng đối với những vị trí có duy nhất một bậc không?
Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp không được áp dụng đối với những vị trí việc làm chỉ có duy nhất một bậc hoặc không xác định bậc.
Căn cứ khoản 4 Điều 10 Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm
1. Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm bao gồm viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý.
2. Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện như sau:
a) Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5 thì tỷ lệ ở bậc 5 không vượt quá 30% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.
Tỷ lệ ở bậc thấp hơn gần nhất với bậc 5 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.
Tỷ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỷ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.
b) Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4 thì tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.
Tỷ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỷ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.
c) Trường hợp vị trí việc làm chỉ xác định sử dụng 2 bậc nghề nghiệp thì tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.
3. Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành được quyết định vị trí việc làm thì đơn vị sự nghiệp công lập được quyết định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm khác với tỷ lệ quy định tại khoản 2 Điều này phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
4. Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm không áp dụng đối với những vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc.
…
Theo quy định, tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm không áp dụng đối với những vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc.
Nói cách khác:
Đối với vị trí việc làm chỉ có một bậc duy nhất (hoặc không xác định bậc), thì không cần áp dụng các tỷ lệ phân bổ theo bậc (như mức trần 30% ở bậc 5, hay 50% ở bậc cao hơn trong trường hợp 2 bậc).
Quy định về tỷ lệ chỉ đặt ra khi vị trí việc làm có từ 2 bậc nghề nghiệp trở lên trở lên, nhằm giới hạn số lượng viên chức được xếp vào các bậc cao trong tổng biên chế được giao cho vị trí đó.

Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm có được áp dụng đối với những vị trí có duy nhất một bậc không?
Khi nào được thực hiện điều chỉnh tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm?
Căn cứ khoản 2 Điều 12 Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Điều chỉnh danh mục vị trí việc làm và tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm
1. Việc điều chỉnh danh mục vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Có sự thay đổi một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Viên chức số 129/2025/QH15;
b) Yêu cầu cơ cấu lại, sắp xếp đội ngũ.
2. Việc điều chỉnh tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Thay đổi chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoặc phạm vi hoạt động;
b) Thay đổi yêu cầu về chất lượng, cơ cấu sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công;
c) Thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực hoặc cơ cấu lại đội ngũ;
d) Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
3. Việc điều chỉnh danh mục vị trí việc làm và tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm được thực hiện theo quy định tại Điều 11 Nghị định này.
Theo đó, việc thay đổi tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp tại vị trí việc làm xuất phát từ bốn nhóm nguyên nhân chính: sự điều chỉnh về chức năng, quy mô hoạt động của đơn vị; sự thay đổi trong yêu cầu chất lượng dịch vụ công; quy hoạch lại nhân sự; hoặc theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền. Khi tiến hành điều chỉnh, đơn vị phải bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục theo khoản 3 Điều 12 Nghị định này.
Vị trí việc làm viên chức được xác định như thế nào?
Căn cứ Điều 5 Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định về nguyên tắc xác định vị trí việc làm cụ thể, như sau:
(1) Bảo đảm việc xác định vị trí việc làm căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập; phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung theo quy định của Chính phủ.
(2) Bảo đảm mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng.
(3) Bảo đảm việc cụ thể hóa nội dung công việc của vị trí việc làm theo lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, phạm vi công tác hoặc đối tượng phục vụ được thực hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm; không làm thay đổi tên gọi và không làm phát sinh vị trí việc làm mới.
(4) Bảo đảm việc phát triển, mở rộng phạm vi, mức độ phức tạp của công việc phải được thể hiện thông qua các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm; không được sử dụng để hình thành vị trí việc làm mới.
(5) Đối với vị trí việc làm quản lý:
- Một chức danh quản lý tương ứng với một vị trí việc làm;
- Trường hợp có từ 02 người trở lên giữ chức danh cấp phó của người đứng đầu thì việc phân công phụ trách lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể không làm phát sinh vị trí việc làm mới, không làm thay đổi tên gọi của vị trí việc làm;
- Gắn với một vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ phù hợp với lĩnh vực được giao phụ trách; là căn cứ để xác định nhiệm vụ chuyên môn, yêu cầu về năng lực và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức theo quy định của pháp luật.
(6) Danh mục vị trí việc làm được sử dụng thống nhất trong đơn vị; việc phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm đã được xác định.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];