- Từ 16/10/2026 mua vàng trên 5 triệu phải chuyển khoản đúng không?
- Có được trả lương người lao động bằng vàng không?
- Người lao động có được ủy quyền cho người khác nhận lương thay hay không?
- Có cần phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động mỗi khi trả lương hay không?
- Doanh nghiệp không thông báo bảng kê trả lương cho người lao động bị phạt bao nhiêu?
Từ 16/10/2026 mua vàng trên 5 triệu phải chuyển khoản đúng không?
Căn cứ vào Nghị định 390/2026/NĐ-CP tải ngày 16/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CР, có hiệu lực từ ngày 16/10/2026.
Theo đó tại khoản 4 Điều 1 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa đổi, khoản 10 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP được bổ sung bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CР quy định: Giao dịch mua, bán vàng có giá trị từ 05 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thanh toán bằng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật.
Trước đây, quy định này áp dụng đối với giao dịch mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng. Việc thanh toán phải thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Như vậy, từ ngày 16/10/2026, giao dịch mua vàng, bán vàng có tổng giá trị từ 05 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải chuyển khoản theo quy định. Ngưỡng giá trị áp dụng đã giảm từ 20 triệu đồng xuống còn 05 triệu đồng.

Từ 16/10/2026 mua vàng trên 5 triệu phải chuyển khoản đúng không? (Hình từ Internet)
Có được trả lương người lao động bằng vàng không?
Căn cứ theo Điều 95 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:
Trả lương
1. Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc.
2. Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng tiền Đồng Việt Nam, trường hợp người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam thì có thể bằng ngoại tệ.
3. Mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động, trong đó ghi rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có). Theo đó, pháp luật lao động đã quy định rất rõ rằng tiền lương mà công ty trả lương cho người lao động phải được ghi rõ trong hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động bằng tiền Việt Nam. Trả lương bằng ngoại tệ chỉ áp dụng với lao động là người nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam.
Theo đó, tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng tiền Đồng Việt Nam, trường hợp người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam thì có thể bằng ngoại tệ.
Như vậy tiền lương trả cho người lao động phải bằng Đồng Việt Nam chứ không được trả lương bằng vàng.
Người lao động có được ủy quyền cho người khác nhận lương thay hay không?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:
Nguyên tắc trả lương
1. Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.
2. Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.
Như vậy, nếu người lao động không thể nhận lương trực tiếp từ người sử dụng lao động thì người lao động có thể ủy quyền cho người khác nhận lương thay mình.
Có cần phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động mỗi khi trả lương hay không?
Tại Điều 95 Bộ luật Lao động 2019 có quy định mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động, trong đó ghi rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có).
Doanh nghiệp không thông báo bảng kê trả lương cho người lao động bị phạt bao nhiêu?
Cụ thể tại Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/9/2026 quy định mức phạt vi phạm quy định về tiền lương như sau:
Vi phạm quy định về tiền lương
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Không công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện: thang lương, bảng lương; mức lao động; quy chế thưởng;
b) Không xây dựng thang lương, bảng lương hoặc định mức lao động; không áp dụng thử mức lao động trước khi ban hành chính thức;
c) Không tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng thang lương, bảng lương; định mức lao động; quy chế thưởng;
d) Không thông báo bảng kê trả lương hoặc có thông báo bảng kê trả lương cho người lao động nhưng không đúng theo quy định;
đ) Không trả lương bình đẳng hoặc phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.
...
Đồng thời dẫn chiếu tới khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định mức phạt trên áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân, nếu người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt gấp 2 lần cá nhân.
Như vậy, từ ngày 10/9/2026 người sử dụng lao động không thông báo bảng kê trả lương cho người lao động bị phạt bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động là tổ chức.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];