Thi viên chức giáo viên cần chứng chỉ tiếng anh nào?
Hiện nay, không có quy định cụ thể về một loại chứng chỉ tiếng Anh duy nhất nào bắt buộc cho tất cả các kỳ thi viên chức giáo viên mà tùy vào từng vị trí việc làm, hạng chức danh nghề nghiệp và quy định của đơn vị tuyển dụng tại thời điểm thí sinh đăng ký dự thi sẽ có yêu cầu cụ thể.
Cụ thể:
Căn cứ tại Điều 9 Nghị định 150/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Nghị định 85/2023/NĐ-CP.
Theo đó, trừ trường hợp được miễn thi ngoại ngữ thì thí sinh dự thi viên chức phải trải qua 02 vòng thi. Trong đó, tại vòng 1 thì sinh phải kiểm tra kiến thức chung ngoại ngữ bằng hình thức thi trắc nghiệm, gồm 30 câu hỏi theo yêu cầu của vị trí việc làm bằng một trong năm thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc lựa chọn 01 ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí việc làm. Thời gian thi 30 phút.
Đối với vị trí việc làm không yêu cầu ngoại ngữ trong tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng và theo bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm thì không phải tổ chức thi phần thi ngoại ngữ.
Đồng thời, theo quy định tại Thông tư 28/2026/TT-BGDĐT và Thông tư 02/2021/TT-BGDĐT, Thông tư 03/2021/TT-BGDĐT và Thông tư 04/2021/TT-BGDĐT quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy cũng không quy định một loại chứng chỉ ngoại ngữ cụ thể cho từng chức danh.
Tuy nhiên, trong trường hợp vẫn yêu cầu, thí sinh thường phải có chứng chỉ theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam theo Thông tư 01/2014/TT-BGDĐT; ngoài ra, các chứng chỉ quốc tế như IELTS, TOEIC, TOEFL cũng có thể được chấp nhận nếu đạt mức điểm tương đương.
Do đó, không có quy định chung bắt buộc tất cả thí sinh thi viên chức phải có chứng chỉ tiếng Anh, cũng như yêu cầu một chứng chỉ tiếng anh cụ thể mà việc tuyển dụng viên chức được thực hiện theo vị trí việc làm và vào từng thông báo tuyển dụng có yêu cầu ngoại ngữ thì mới cần chứng chỉ cụ thể.
*Các trường hợp được miễn phần thi ngoại ngữ:
- Có bằng tốt nghiệp chuyên ngành ngoại ngữ (Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí việc làm) cùng trình độ đào tạo hoặc ở trình độ đào tạo cao hơn so với trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm dự tuyển.
- Có bằng tốt nghiệp cùng trình độ đào tạo hoặc ở trình độ đào tạo cao hơn so với trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm dự tuyển, học tập ở nước ngoài hoặc học bằng tiếng nước ngoài (Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí việc làm) ở Việt Nam, được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc đương nhiên được công nhận theo quy định của pháp luật.
- Có bằng tốt nghiệp chuyên môn chuẩn đầu ra về ngoại ngữ theo quy định có giá trị tương đương hoặc cao hơn tiêu chuẩn về ngoại ngữ theo yêu cầu của vị trí việc làm dự tuyển.
- Có chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số dự tuyển vào vị trí việc làm liên quan trực tiếp đến người dân tộc thiểu số hoặc vị trí việc làm công tác tại vùng dân tộc thiểu số; là người dân tộc thiểu số dự tuyển vào vị trí việc làm liên quan trực tiếp đến người dân tộc thiểu số hoặc vị trí việc làm công tác ở vùng dân tộc thiểu số.
(Theo khoản Điều 9 Nghị định 150/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Nghị định 85/2023/NĐ-CP).

Thi viên chức giáo viên cần chứng chỉ tiếng anh nào? (Hình từ Internet)
Vị trí việc làm từ 1/7/2026 của viên chức có sự thay đổi như thế nào?
Theo quy định tại Điều 23 Luật Viên chức 2025 (có hiệu lực từ 1/7/2026) về vị trí việc làm của viên chức như sau:
- Căn cứ xác định vị trí việc làm viên chức:
+ Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập;
+ Mức độ phức tạp, tính chất, đặc điểm, quy mô hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; phạm vi, đối tượng phục vụ; quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ;
+ Chuyên môn, nghiệp vụ của ngành, lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp và chuyên môn, nghiệp vụ của ngành, lĩnh vực khác theo quy định;
+ Mức độ hiện đại hóa phương tiện, trang bị, thiết bị, điều kiện làm việc và ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.
- Vị trí việc làm của viên chức bao gồm các nội dung chính sau:
+ Tên gọi vị trí việc làm;
+ Bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm.
- Phân loại vị trí việc làm:
+ Vị trí việc làm quản lý;
+ Vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ;
+ Vị trí việc làm hỗ trợ.
Trong khi đó, tại Điều 7 Luật Viên chức 2010 quy định về vị trí việc làm công chức như sau:
+ Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Chính phủ quy định nguyên tắc, phương pháp xác định vị trí việc làm, thẩm quyền, trình tự, thủ tục quyết định số lượng vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Như vậy, so với quy định tại Luật Viên chức 2010 thì Luật Viên chức 2025 đã có bước phát triển rõ rệt theo hướng cụ thể hóa và chuẩn hóa. Cụ thể, từ ngày 01/7/2026, vị trí việc làm của viên chức:
- Không còn chỉ mang tính khái quát là căn cứ xác định số lượng người làm việc như trước đây mà đã được quy định đầy đủ, chi tiết hơn về căn cứ xác định tên vị trí, mô tả công việc, khung năng lự cũng như phân loại vị trí việc làm.
Đồng thời, vị trí việc làm sẽ gắn trực tiếp với việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Đây là cơ sở để đánh giá năng lực, hiệu quả công việc. Đặc biệt là làm căn cứ trả lương theo vị trí việc làm, thay vì chủ yếu dựa vào thâm niên như trước. Từ đó giúp nâng cao tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý viên chức.
Sự khác biệt trong việc tuyển dụng viên chức theo Luật Viên chức 2010 và Luật Viên chức 2025?
Sự khác biệt trong tuyển dụng viên chức giữa Luật Viên chức 2010 và Luật Viên chức 2025 thể hiện rõ ở định hướng quản lý và cách thức tổ chức tuyển dụng.
Cụ thể:
Theo quy định tại Điều 17 Luật Viên chức 2025 như sau:
Phương thức tuyển dụng viên chức
1. Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua phương thức sau đây:
a) Thi tuyển;
b) Xét tuyển đối với từng nhóm đối tượng theo quy định của Chính phủ.
2. Ngoài phương thức tuyển dụng theo quy định tại khoản 1 Điều này, các đối tượng sau đây nếu đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm thì thực hiện tiếp nhận vào làm viên chức:
a) Chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt, người có kinh nghiệm phù hợp;
b) Người đang ký hợp đồng làm công việc tại đơn vị sự nghiệp công lập;
c) Các đối tượng khác theo quy định của pháp luật về ngành, lĩnh vực.
3. Đối với người đang là cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức cơ yếu nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm và được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản chuyển sang làm viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập thì không phải thực hiện quy định tuyển dụng tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này
Theo đó, việc tuyển dụng tại Luật Viên chức 2010 chủ yếu dựa vào nhu cầu biên chế, gắn với chức danh nghề nghiệp, ngạch bậc. Đồng thời, phương thức tuyển dụng thông qua thi tuyển và xét tuyển.
Tuy nhiên, cách tiếp cận còn mang tính hành chính, chưa gắn chặt với yêu cầu cụ thể của từng vị trí việc làm
Trong khi đó, tại Luật Viên chức 2025 sẽ chuyển sang cơ chế tuyển dụng theo vị trí việc làm, phương thức tuyển dụng cũng có sự thay đổi, bổ sung phương thức tiếp nhận vào làm viên chức áp dụng đối với một số đối tượng cụ thể.
Đồng thời, quy định mới cũng trao quyền chủ động nhiều hơn cho đơn vị sự nghiệp công lập trong việc tổ chức tuyển dụng với phương thức tiếp nhận viên chức, giúp linh hoạt và phù hợp với đặc thù ngành nghề.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];