Quyết định giám đốc thẩm 468/2014/DS-GĐT ngày 24/11/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 468/2014/DS-GĐT NGÀY 24/11/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 24/11/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” do có kháng nghị số 350/2014/KN- DS ngày 19/9/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 88/2012/DSPT ngày 10/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Ben Tre giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguvễn Văn Nhẹ, sinh năm 1967; trú tại: ấp Phú Lộc Hạ, xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh BếnTre.

Bị đơn:

1. Chị Nguyễn Thị Kim Huê, sinh năm 1986; trú tại: ấp Phú Lộc Hạ 1, xã Định, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

2. Bà Trương Thị Lực, sinh năm 1965; trú tại: ấp Phú Lộc Plạ 2, xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Ben Tre.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 23/5/2010, đơn khởi kiện bổ sung ngày 09/8/2011 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Nhẹ trình bày: Năm 2002 bà Trương Thị Lực bán cho ông diện tích đất 60m2 gồm ngang 2m, dài 3 Om với số tiền 6.000.000 đồng, bán cho bà Nguyễn Thị Phượng 120m2, gồm ngang 4m, dài 30m với số tiền 8.000.000 đồng, cả hai phần đất bán cho bà Phượng và ông Nhẹ liền kề nhau.

Sau này bà Phượng thỏa thuận bán phần đất 120m2 đã mua của bà Lực lại cho ông Nhẹ, nên ngày 22/12/2004 giữa ông Nhẹ, bà Phượng, bà Lực, chị Huê thỏa thuận chị Nguyễn Thị Kim Huê cùng bà Trương Thị Lực làm giao kèo bán cả hai phần đất trên cho ông Nhẹ, để tiện làm thủ tục chuyển quyền. Phần đất đang tranh chấp bà Huê đã được cấp quyền sử dụng với diện tích 190m2 ído đạc thục tế 172m2) ở một phần thửa 198, sau này được tách ra là thửa 1643, từ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp Phú Lộc Hạ 2, xã An Định, có tứ cận sau:

-  Cạnh Đông - Bắc giáp một phần thửa 198 dài 5.55m

-  Cạnh Đông- Nam giáp rạch dài 31.46m

-  Cạnh Tây - Nam giáp Quốc lộ 57 dài 1.43m + 4.66m

-  Cạnh Tây - Bắc giáp thửa 1644 dài 29.27m

Khi mua bán các bên chỉ làm tờ giao kèo bán đất, không có công chứng chứng thực, các bên đã giao đất, nhận tiền xong và ông Nhẹ đã canh tác phần đất từ đó đến nay và đã trồng cây trên đất. Khi mua bán hai bên có thỏa thuận khi nào ông Nhẹ cần làm sổ thì chị Huê và bà Lực sẽ ký vào hồ sơ chuyển nhượng phần đẩt trên cho ông Nhẹ, do giấy chứng nhạn quyền sử dụng đất bà Lực đã cầm cho người khác, nên việc chuyển nhượng chưa được tiến hành và các bên thống nhất khi nào đủ điều kiện sẽ làm thủ tục chuyển nhượng.

Đến năm 2010, khi biết chị Huê được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì ông Nhẹ có yêu cầu chị Huê, bà Lực làm thủ tục chuyển quyền đối với diện tích 190m2 nói trên, nhưng chị Huê không đồng ý chuyến nhượng. Ông Nhẹ khới kiện với yêu cầu bà Lực, chị Huê tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử duns đất diện tích 172m2 có tứ cận theo như kết quả đo đạc thực tế ngày 16/8/2011 của Phòng Tài nguyên và Môi trường ở thửa 1643, từ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp Phú Lộc Hạ 2, xã An Định lại cho ông.

Bị đơn bà Trương Thị Lực trình bày: Bà có bán cho ông Nhẹ và bà Phượng diện tích đất có vị trí như ông Nhẹ yêu cầu, sau này bà Phượng thỏa thuận bán phàn của bà Phượng lại cho ông Nhẹ, nên đen ngày 22/12/2004 bà, bà Huê, bà Phượng, ông Nhẹ thỏa thuận bà và con bà là chị Nguyễn Thị Kim Huê làm tờ giao kèo bán đất cho ỏng Nhẹ luôn để tiện việc chuyển quyền, khi đó chị Huê cũng không thắc mắc gì, việc mua bán đã giao đất, nhận tiền xong từ năm 2002.

Nguồn gốc phần đất ở thửa 1643 được tách ra từ thửa 198 là tài sản của bà và chồng bà là Nguyễn Văn Hưng (do ông Hưng đứng tên quyền sử dụng), năm 2001 bà và ông Hưng ly hôn có thỏa thuận bà được quyền quản lý sử dụng phần đất ở thửa 198 diện tích 1050m2, khi nào Huê đủ 18 tuổi sẽ chuyển quyền lại cho Huê.

Khi bán bà có trao đổi và chị Huê đồng ý, bà là người nhận tiền, mục đích bán là để xây sở trong gia đình. Khi mua bán có thỏa thuận với ông Nhẹ khi nào làm thủ tục chuyên quyền thì bà và Lluê sẽ ký chuyển quyền. Sau đó ông Nhẹ có đến yêu càu bà làm thủ tục chuyển quyền, nhưng do bà và chị Huê có bán thêm một phần ở thửa 198 cho bà Kiều và đưa luôn sổ đỏ của cho bà Kiều để làm thủ tục chuyển quyền, nhưng bà Kiều lại lấy số đỏ của bà đem cầm cho người khác, nên việc chuyển quyền cho ông Nhẹ chưa thực hiện được và đã có thống nhất khi nào có đủ điêu kiện sẽ chuyển quyền cho ông Nhẹ.

Đến năm 2010 Huê tự làm sổ đỏ thì ông Nhẹ biết, nên có đến yêu cầu bà và chị Huê làm thủ tục sang tên cho ông nhưng chị Huê không đồng ý. Nay ông Nhẹ yêu cầu bà và chị Huê tiếp tục thực hiện họp đồng chuyến nhượng phần đất 190m2 (đo đạc thực tế 172m2) cho ông Nhẹ, bà dồng ý cùng chị Huê làm thủ tục chuyển nhượng

Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim Huê trình bày: Thời điểm bà Trưong Thị Lực bán phần đất diện tích 190m2 (đo đạc thực tế 172m2) ở thửa 1643, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp Phú Lộc Hạ 2, xã An Định cho ông Nguyễn Văn Nhẹ chị không biết, đến ngày 22/12/2004 mẹ chị nói là cần tiền muốn bán phần đất do ngoại để lại nhưng cần có chữ ký của chị mới bán được, chị nghĩ đó là đất của mẹ, nên mới ký bán.

Nay ông Nhẹ yêu cầu tiếp lục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 172m2 theo như kết quả đo đạc thực tế ngày 16/8/2011 chị không đồng ý, vì chị không có bán dẩt và cũng không nhận tiền từ ông Nhẹ.

Chị Huê phản tố yêu cầu tòa tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo tờ giao kèo bán đất ngày 22/12/2004 vô hiệu.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2012/DSST ngày 25/4/2012, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Nhẹ về việc yêu cầu bà Trương Thị Lực, chị Nguyễn Thị Kim Huê tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cụ thể như sau:

Buộc bà Nguyễn Thị Kim Huê hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng diện tích đất 172m2 ở thửa 1643, tờ bản dồ số 1, tọa lạc tại ấp Phú Lộc Hạ 2, xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí đo đạc, án phí, và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 8/5/2012 chị Nguyễn Thị Kim Huê có đơn kháng cáo. Ngày 7/5/2012 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày kháng nghị.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 88/2012/DSPT ngày 10/7/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Ben Tre quyết định: Sửa bản án sơ thẩm:

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát huyện Mỏ Cày Nam, chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Kim Huê. Bác yêu cầu của ông Nguyễn Văn Nhẹ về việc tiếp tục thực hiện hợp d nng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với bà Trương Thị Lực và chị Nguyễn Thị Kim Huê.

Chấp nhận yêu cầu phản tế của chị Nguyễn Thị Kim Huê về yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trương Thị Lực, chị Nguyễn Thị Kim Huê với ông Nguyễn Văn Nhẹ.

Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/12/2004 giữa ông Nguyễn Văn Nhẹ với bà Trương Thị Lực và chị Nguyễn Thị Kim Huê;

Buộc bà Trương Thị Lực bồi thường cho ông Nguyễn Văn Nhẹ số tiền 120.000.000đ.

Ông Nguyễn Văn Nhẹ phải giao trả cho chị Nguyễn Thị Kim Huê 172m2 đất thuộc một phần thửa 1643, tờ bản dồ số 01, tọa lạc tại ấp Phú Lộc Thọ 2, xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị Kim Huê ngày 24/12/2010.

Chị Nguyễn Thị Kim Huê phải hoàn trả giá trị cây trông cho ông Nguyễn Văn Nhẹ là 1.190.000đ và được sử dụng 11 cây dầu, 03 bụi chuối.

Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ùng Nguyễn Văn Nhẹ có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám dốc thẩm đối với bảr Ún phúc thẩm nêu trên.

Tại quyết định kháng nghị số 350/2014/KN-DS ngày 19/9/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 88/2012/DSPT ngày 10/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre. Đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án phúc thấm, bản án sơ thấm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

XÉT THẤY

Thửa đất số 198, tờ bản đồ số 01, diện tích 1050m2, tọa lạc tại ấp Phú Lộc Hạ 2, xã An Định, huyện Mỏ Cày N'vn, tỉnh Ben Tre có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn Hưng (là chồng bà Trương T ị Lực) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/6/1999. Năm 2001, Ông Hưng và bà Lực thuận tình ly hôn, thỏa thuận phần đất 1050m2 nêu trên giao cho bà Lực quản lý cho đến khi con là chị Nguyễn Thị Kim Huê (sinh ngày 07/5/1986) đủ 18 tuổi thì giao lại cho chị Huê.

Năm 2002, bà Lực chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Phượng và ông Nguyễn Văn Nhẹ một phần đất thuộc ph;; đất trên để lấy tiền chi tiêu trong gia đình. Năm 2003, bà Phượng chuyển nhượng lại phần đất cho ông Nhẹ nên giữa bà Lực, bà Phượng, ông Nhẹ thỏa thuận bà Lực đứng tên chuyển nhượng toàn bộ đất cho ông Nhẹ, việc chuyển nhượng này không lập thành văn bản nhưng ông Nhẹ đã nhận đất sử dụng. Ngày 22/12/2004, ông Nhọ với bà Lực, chị Huê thỏa thuận lập “Tờ giao kèo bán đất” thống nhất bà Lực và chị 1 luê chuyển nhượng cho ông Nhẹ phần đất nền nhà, diện tích ngang 6m, dài 30m, giáp quốc lộ 57, giá 18 triệu đồng, chị Huê và bà Lực ký tên bán và có 02 người làm chứng hợp đồng chưa được công chứng, chứng thực theo quy định. Ngày 24/12/2010, chị Huê đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,  nhưng sau đó chị Huê không làm thủ tục chuyển nhượng đất cho ông Nhẹ. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/12/2004 giữa ông Nhẹ và chị Huê, bà Lực chỉ vi phạm về hình thức. Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị Huê, bà Lực với ông Nhẹ thực hiện hình thức của hợp đồng, nhưng chị Huê không đồng ý và đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng ngày 22/12/2004, nên hợp đồng vô hiệu. Lỗi làm cho họp đồng vô hiệu chủ yếu thuộc về bên chuyển nhượng trong đó có chị Huê, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm xác định hai bên có lỗi ngang nhau là không đúng. Chị Huê là người tham gia ký hợp đồng vói bà Lực nên chị Huê phải có trách nhiệm liên đới với bà Lực đối với phần lỗi làm cho họp đồng vô hiệu, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm chỉ buộc bà Lực thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là không đúng.

Vì vậy, kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên và căn cử vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 88/2012/DS-PT ngày 10/07/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2012/DSST ngày 25/04/2012 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “ giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Nhẹ với bị đơn là bà Trương Thị Lực, chị Nguyễn Thị Kim Huệ.


85
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 468/2014/DS-GĐT ngày 24/11/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Số hiệu:468/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/11/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về