Quyết định giám đốc thẩm 38a/2014/KDTM-GĐT ngày 26/08/2014 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA KINH TẾ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 38A/2014/KDTM-GĐT NGÀY 26/08/2014 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 

Ngày 26 tháng 8 năm 2014, tại trụ sở Toà Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao mở phiên toà giám đốc thấm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp họp đồng tín dụng, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương; có trụ sở tại Tòa nhà 15T, đường Nguyễn Thị Định, phường Trung Hòa, quận cầu Giấy, thành phố Hà Nội; người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thị Huyền Thanh Trưởng phòng giao dịch số 1 Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương Chi nhánh Phú Thọ (theo Giấy ủy quyền số 69/2007/QD-QTDTW ngày 04/6/2007 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Khanh sinh năm 1954; trú tại: Khu 12, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Lloàng Phương sinh năm 1982 (anh Phương là con trai bà Khanh và có Giấy ủy quyền cho bà Khanh tham gia giải quyết toàn bộ vụ án); trú tại: Khu 12, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

NHẬN THẤY

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2011 của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy:

Ngày 30/6/2008, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương - Chi nhánh Phú Thọ và bà Nguyễn Thị Hồng Khanh ký kết Hợp đồng tín dụng số TCXKD00007/HDTD, theo đó bà Khanh vay 700.000.000 đong, lãi suất chovay theo quyết định của Tổng giám đốc Qũy tín dụng Trung uơng về lãi suất cho vay tại thời điểm nhận nợ và được ghi trên từng giấy nhận nợ, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, thời hạn vay là 12 tháng. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền của bên thế chấp đối với thửa đất số 107, tờ bản đồ số 27, diện tích 160m2 tại Khu 12, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ do Uỷ ban nhân dân huyện Phù Ninh cấp cho hộ bà Khanh ngày 25/9/2001. Do bà Khanh không thực hiện việc trả nợ theo cam kết nên Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương khởi kiện yêu cầu bà Khanh có nghĩa vụ trả nợ gốc 690.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 07/3/2011 là 210.861.200 đồng. Neu không trả thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Bà Khanh thừa nhận đến nay còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương - Chi nhánh Phú Thọ số tiền gốc và lãi như trên và cam kết sẽ thanh toán đầy đủ, nếu vi phạm sẽ chấp nhận việc xử lý tài sản thế chấp.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2011/QĐST-KDTM ngày 21/4/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định:

I. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng Khanh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng Phương.

II. Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

1. Xác nhận đến ngày 07/3/2011, bà Nguyễn Thị Hồng Khanh còn nợ Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Phú Thọ tiền gốc là 690.000.000 đồng, tiền lãi là 210.861.200 đong.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Khanh có lộ trình trả nợ như sau:

- Đến ngày 30/5/2011, bà Nguyễn Thị Plồng Khanh có nghĩa vụ trả 190.000.000 đồng tiền gốc cho Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Phú Thọ.

- Đến ngày 30/8/2011, bà Khanh có nghĩa vụ trả tiếp 250.000.000 đồng tiền gốc cho Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Phú Thọ.

- Đến ngày 30/11/2011, bà Khanh có nghĩa vụ trả hết 250.000.000 đồng tiền gốc cho Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Phú Thọ.

- Sau khi trả hết gốc, đến ngày 30/02/2012, bà Khanh có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền lãi cho Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Phú Thọ.

Nếu bà Nguyễn Thị Hồng Khanh vi phạm bất kỳ lịch trả nợ nào trên đây thì Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Phú Thọ được quyền đề nghị Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ xử lý bán toàn bộ tài sản thế chấp là nhà cap III, hai tầng trên diện tích mảnh đất 160m2, thửa số 107, tờ bản đồ số 27 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S402849 do ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh cấp ngày 25/9/2001 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng Khanh tại khu 12, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để trả toàn bộ nợ gốc và lãi cho Quỹ tín dụng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và việc thi hành án.

Sau khi có Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, ngày 13 tháng 12 năm 2013, ông Nguyễn Đức Luật (chồng bà Khanh) có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm với nội dung:

- Hợp đồng tín dụng số TCXKD 00007 ngày 30/6/2008 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đât ngày 30/6/2008 ký giữa Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương Chi nhánh Phú Thọ và bên vay vôn và thê châp tài sản là vợ ông (bà Nguyễn Thị Hồng Khanh). Tài sản thế chấp là tài sản chung của vợ chồng ông, nhưng hợp đồng chỉ một mình vợ ông đứng tên. Vợ ông tự ý thế chấp tài sản chung của vợ chồng là nhà, đất đế vay vốn ông không biết và không ký bất kỳ một văn bản, giấy tờ gì liên quan đến việc vay vốn. Ông là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không được tham gia tố tụng.

Tại Quyết định kháng nghị số 08/2014/KN-KDTM ngày 16 tháng 4 năm 2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Kháng nghị Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2011/QĐST-KDTM ngày 21/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, giải quyết vụ án lãnh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và bị đơn là bà Nguyễn Thị Hồng Khanh về phần xử lý tài sản thế chấp; đề nghị Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thấm theo hướng hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2011/QĐST-KDTM ngày 21/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về phần xử lý tài sản thế chấp; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm lại phần xử lý tài sản thể chấp theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiếm sát nhân dân tối cao đề nghị chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương với bà Nguyễn Thị Hồng Khanh thì về khoản tiền nợ gốc và lãi các bên đều thống nhất không có khiếu nại, sau khi có Quyết địnhcông nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2011/QĐST-KDTM ngày 21/4/2011, bà Khanh không thực hiện cam kết, lẽ ra phải xử lý tài sản thế chạp để đảm bảo thi hành án. Tuy nhiên, theo các tài liệu mà ông Nguyễn Đức Luật xuất trình (bản sao, chưa có chứng thực sao nguyên bản chính) như Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 27/02/2012, Công văn số 150/TC-CT ngày 23/4/2012 về việc xác minh tình trạng hôn nhân của Cán bộ công nhân viên. Giấy xác nhận của Đảng ủy Công ty cổ phần Lilama ngày 17/9/2013 thể hiện bà Khanh và ông Luật có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phú Lộc, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ năm 1978, quá trình chung sống có 2 con chung là chị Nguyễn Thị Thúy Hằng sinh năm 1979 và anh Nguyễn Hoàng Phương sinh năm 1982. Theo bà Khanh và ông Luật khai thì tài sản bà Khanh mang thế chấp là tài sản chung của vợ chồng. Thực tế, tài sản bà Khanh mang thế chấp là tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình bà Khanh vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi cấp cho hộ bà Khanh. Các tình tiết nêu trên chưa được Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xem xét làm rõ. Theo các tài liệu này thì bà Khanh, ông Luật có 2 con chung là chị Nguyễn Thị Thúy Hằng và anh Nguyễn Hoàng Phương đều là thành viên của hộ gia đình. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tuy có chứng thực và đăng ký, nhưng chỉ có bà Nguyễn Thị Hồng Khanh và anh Nguyễn Hoàng Phương ký, không có chữ ký và không được sự đồng ý chấp thuận của các thành viên khác trong hộ gia đình như ông Luật, chị Hằng là trái quy định của pháp luật theo khoản 2 Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2005 “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý” và khoản 2 Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai “Hợp đồng chuyến đối, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải dược tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự”.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án nhưng không đưa ông Luật, chị Hằng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng, nhưng Tòa án vân tiến hành hòa giải và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa bà Khanh với Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương về việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của ông Luật và chị Hằng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 3 Điều 184 và khoản 3 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự”. Đối với phần về họp đồng tín dụng tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 297; Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011),

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2011/QĐST-KDTM ngày 21/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về phần xử lý tài sản thế chấp;

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm lại vê phần xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.

3. Các nội dung của Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2011/QĐST-KDTM ngày 21/4/201 lcủa Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ không bị kháng nghị hủy có hiệu lực thi hành.


127
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 38a/2014/KDTM-GĐT ngày 26/08/2014 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:38a/2014/KDTM-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:26/08/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về