Quyết định giám đốc thẩm 38/2013/DS-GĐT ngày 21/05/2013 về vụ án dân sự đòi lại tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Kim Hoa và bị đơn ông Nguyễn Thế Sương

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 38/2013/DS-GĐT NGÀY 21/05/2013 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ ĐÒI LẠI TÀI SẢN GIỮA NGUYÊN ĐƠN BÀ NGUYỄN THỊ KIM HOA VÀ BỊ ĐƠN ÔNG NGUYỄN THẾ SƯƠNG

Ngày 21 tháng 5 năm 2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Đòi lại tài sản” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim Hoa sinh năm 1949; trú tại 32 CLEARY CRCLAYTON VIE 3169 AUSTRALIA; bà Hoa ủy quyền cho chị Từ Thị Ngọc Châu sinh năm 1972, trú tại số 116/4Đ khu phố 2, phường Tân Thuận Tây, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, đại diện (văn bản ủy quyền ngày 19/01/2008).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thế Sương sinh năm 1935; trú tại ấp Bưng Cần, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Đẹp sinh năm 1961; trú tại số 128/15 đường Thiên Phước, phường 9, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 14-02-2008 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Kim Hoa trình bày:

Bà là người Việt Nam định cư tại Australia (Úc). Do pháp luật Việt Nam chưa cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà đất tại Việt Nam, nên từ năm 2001 bà đã nhiều lần gửi tiền về nhờ ông Nguyễn Thế Sương (anh của bà) nhận chuyển nhượng 1.473m2 đất tại xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đông Nai; đồng thời nhờ cất nhà và trông giữ căn nhà để bà có chỗ ở và sinh hoạt khi về Việt Nam. Cụ thể từ năm 2001 đến năm 2002, bà đã gửi 07 lần tổng cộng là 61.700 đô la Úc về Việt Nam cho ông Sương thông qua Công ty chuyển tiền tại Úc. Mỗi khi ông Sương nhận được tiền, thì gọi điện thông báo cho bà biết, nên bà không yêu cầu Công ty chuyển tiền cung cấp chứng từ ký nhận của ông Sương. Do thời gian quá lâu, hiện nay Công ty đã hủy những tài liệu này, nên bà cung cấp bản phô tô các biên nhận gửi tiền không có chữ ký nhận tiền của ông Sương.

Sau khi nhận tiền do bà gửi, ông Sương đã nhận chuyển nhượng đất và cất nhà cho bà. Căn nhà xây xong và gia đình tổ chức tân gia vào ngày 21/7/2002. Cuối năm 2002, bà yêu cầu ông Sương sang tên nhà đất cho ông Nguyễn Ngọc Đương (anh của bà và ông Sương) và chị Từ Thị Ngọc Châu (con của bà), nhưng ông Sương không sang tên cho ông Đương và chị Châu mà nêu là ông Đương và chị Châu không cư trú tại địa phương. Ngày 03/02/2005, hộ ông Nguyễn Thế Sương được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSD đất), diện tích 1.473m2.

Cuối năm 2006, bà gọi điện thoại yêu cầu ông Sương làm thủ tục ủy quyền cho ông Đương và chị Châu quản lý nhà đất nêu trên, thì ông Sương nêu đất do chị Nguyễn Thị Đẹp (con của ông Sương) bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng của ông Rồi; nếu làm giấy chuyển tên cho ông Đương và chị Châu thì bà phải trả cho chị Đẹp 6 cây vàng. Bà không đồng ý yêu cầu này của cha, con ông Sương. Năm 2007, ông Sương làm thủ tục tặng cho toàn bộ diện tích đất nêu trên cho chị Đẹp.

Bà gửi tiền về nhờ ông Sương mua hộ đất, cất nhà và đứng tên giùm; ngày 21/7/2002 nhà xây xong, nhưng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Đẹp với ông Trần Văn Rồi (chủ đất cũ) lại ghi ngày 03/5/2004 (sau khi gia đình bà đã xây nhà xong) là vô lý. Do đó, bà yêu cầu Tòa án buộc ông Sương trả lại quyền sử dụng 1.473m2 đất nêu trên.

Bị đơn là ông Nguyễn Thế Sương trình bày: Trưóc đây, ông và cụ Nguyễn Thị Trang (mẹ của ông) sống trên 1,5 sào đất do chị Đẹp (con của ông ở tại thành phố Hồ Chí Minh) bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Rồi vào năm 2001 (việc nhận chuyển nhượng có làm hợp đồng viết tay). Năm 2004 ông làm thủ tục cấp GCNQSD đất, nên yêu cầu ông Rồi ký lại hợp đồng chuyển nhượng đất cho hợp lệ để làm thủ tục chuyển quyền.

Năm 2002, bà Hoa nói với ông sẽ gửi tiền về cho ông xây nhà để cho mẹ, con ông ở và sau khi mẹ của ông chết thì làm nhà thờ cúng. Bà Hoa đã gửi tiền về cho ông nhiều lần (09, 10 lần), tổng cộng khoảng 27.000 đô la Úc (gửi qua 02 địa chỉ: số 78 đường Bà Huyện Thanh Quan, thành phố Hồ Chí Minh gặp ông Thông và địa chỉ số 148 Lý Chính Thắng, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh gặp ông Dũng; thủ tục nhận tiền là ông mang chứng minh nhân dân qua nhận). Ông đã xây nhà 196m2/l .473m2 đất và cùng bà Hoa mua sắm đồ dùng sinh hoạt.

Chị Đẹp mua đất vào năm 2001, đến năm 2002, bà Hoa gửi tiền về để ông xây nhà và nuôi mẹ. Ông đã dùng hết 27.000 đô la Úc do bà Hoa gửi về để xây nhà, còn thiếu 32.000.000 đồng. Sau đó bà Hoa về Úc và có gửi trả cho ông một phần, còn 12.500.000 đồng thì bà Hoa không trả nữa, mà do ông bỏ tiền ra trả cho chủ thầu (chủ thầu tên là Bang ở xã Bảo Định).

Do chị Đẹp sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh, nên để cho ông đứng tên chủ sử dụng đất nêu trên. Năm 2007, ông làm thủ tục tặng cho chị Đẹp diện tích đất nêu trên. Hiện nay ông phải đi ở nhờ nhà của con, không có chỗ ở nào khác nên ông không đồng ý yêu cầu của bà Hoa. Nếu bà Hoa muốn lấy đất thì phải trả cho ông 10 lượng vàng và thanh toán công tôn tạo xây dựng căn nhà cho ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Đẹp trình bày:

Đất đang tranh chấp là do chồng của chị gửi tiền từ nước ngoài về để chị nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Rồi với giá 28.000.000 đồng. Chị và ông Sương (cha của chị) thỏa thuận việc chuyển nhượng với ông Rồi. Do không sinh sống tại địa phương, nên chị để cho ông Sương đứng tên đất này. Mọi thủ tục chuyển nhượng do ông Sương đứng ra làm.    

Năm 2002, ông Sương có đề nghị với chị là để ông Sương xây căn nhà trên một phần đất của chị để phụng dưỡng bà nội của chị. Bà Hoa hứa sẽ gửi tiền về cho ông Sương xây nhà; chị đã đồng ý cho ông Sương xây nhà để bà nội và ông Sương cùng ở. Căn nhà trên đất là do bà Hoa bỏ tiền ra xây. Năm 2002, bà Hoa về nước có đưa trả cho chị 3.000 đô la Úc và đề nghị chị nhượng cho bà Hoa diện tích đất nêu trên; chị đã chấp thuận. Sau đó bà Hoa đòi lại 3.000 đô la Úc với lý do bà Hoa hết tiền tiêu, khi sang Úc bà Hoa gửi lại cho chị, nhưng sau đó bà Hoa đã không gửi tiền về cho chị. Khi hòa giải ở xã, bà Hoa cũng đề nghị trả cho chị 3.000 đô la Úc tiền đất, nhưng do tình cảm không còn nên chị không đồng ý. Hiện nay, diện tích đất nêu trên ông Sương đã sang tên cho chị; do đó, chị không đồng ý với yêu cầu của bà Hoa.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2008/DSST ngày 18/9/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Hoa.

Buộc chị Nguyễn Thị Đẹp phải trả cho bà Nguyễn Kim Hoa số tiền 127.652.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Đẹp được tiếp tục sử dụng diện tích 1.473m2 đất thửa số 1120 tờ bản đồ số 07 xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 18/9/2008, chị Đẹp kháng cáo với nội dung: Chị là người bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng 1.473m2 đất; ông Sương đứng ra làm thủ tục chuyển nhượng với ông Rồi. Sau này, bà Hoa cho tiền ông Sương cất nhà và nuôi bà nội, chị đã đồng ý. Năm 2003 bà Hoa xin trả cho chị tiền đất là 3000 đô la Úc , chị đã nhận, nhưng sau đó bà Hoa đòi lại để chi tiêu và hứa khi về Úc bà Hoa gửi trả chị số tiền này, cho đến trước khi xảy ra tranh chấp tại Tòa án bà Hoa vẫn đề nghị trả cho chị 3.000 đô la Úc, nhưng chị không nhận vì tình cảm không còn và giá đất đã thay đổi, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là của vợ chồng chị nên chị không tự quyết định được. Chị không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 463/2008/DSPT ngày 28/11/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Bác đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị Đẹp và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Hoa, buộc chị Nguyễn Thị Đẹp phải trả cho bà Nguyễn Kim Hoa sổ tiền 127.652.500 đồng. Chị Nguyễn Thị Đẹp được tiếp tục sử dụng diện tích 1.473m2 đất, thửa 1120, tờ bản đồ số 7, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Sau khi xét xử phúc thẩm, chị Nguyễn Thị Đẹp khiếu nại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 708/2011/KN-DS ngày 25/11/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nahị bản án dân sự phúc thẩm số 463/2008/DSPT ngày 28/11/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 12/2008/DSST ngày 18/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 12/2008/DSST ngày 18/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Kim Hoa xuất trình 07 biên nhận (ngày 22/02/2001 là 3.000AUD, ngày 25/3/2002 là 10.000AUD, ngày 11/5/2002 là 14.500AUD, ngày 02/7/2002 là 13.500AUD, ngày 28/8/2002 la 13.000AUD, ngày 06/10/2002 là 4.500AUD và ngày 12/6/2003 là 3.200AUD) với số tiền là 61.700AUD (đô la Úc) để chứng minh rằng bà đã chuyển sổ tiền trên từ Úc về Việt Nam để nhờ ông Nguyễn Thế Sương (anh của bà) đứng tên nhận chuyển nhượng 1.473m2 đất tại xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; đồng thời nhờ ông Sương xây nhà và trông nom giùm. Tuy nhiên, các biên nhận tiền do bà Hoa xuất trình không có chữ ký nhận của ông Sương và đều là bản phô tô.

Trong khi đó, ông Nguyễn Thế Sương thừa nhận có nhận tiền của bà Hoa gửi về 9 hoặc 10 lần thông qua 02 địa chỉ: số 78 đường Bà Huyện Thanh Quan, thành phố Hồ Chí Minh (gặp ông Thông) và số 148 Lý Chính Thắng, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh (gặp ông Đỗ Tiến Dũng); tổng cộng là 27.000AUD để xây nhà. Thực tế, xây nhà hết 27.000AUD và 32.000.000 đồng; do bà Hoa chuyển tiền không đủ, nên ông phải phụ thêm 12.500.000 đồng. Còn diện tích 1.473m2 đất do chị Nguyễn Thị Đẹp (con gái của ông) bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Rồi.

Chị Nguyễn Thị Đẹp cho rằng vợ chồng chị bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng đất của ông Rồi với giá 28.000.000 đồng. Do không sinh sống tại địa phương, nên chị để cho ông Sương (cha của chị) đứng tên. Năm 2002, ông Sương đề nghị chị cho xây nhà trên một phần đất để phụng dưỡng bà nội của chị; bà Hoa hứa sẽ gửi tiền về cho ông Sương xây nhà, nên chị đã đồng ý. Năm 2002, bà Hoa về nước đưa cho chị 3.000AUD và đề nghị chị nhượng cho bà Hoa diện tích đất nêu trên; chị đã chấp thuận. Sau đó bà Hoa đòi lại 3.000AUD với lý do bà Hoa hết tiền chi tiêu và cam kết khi sang Úc gửi trả, nhưng thực tế bà Hoa đã không gửi tiền về cho chị. Do đó, năm 2007 ông Sương đã làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất nêu trên cho chị, nên chị không đồng ý yêu cầu của bà Hoa.

Như vậy, theo bà Hoa thì tiền nhận chuyển nhượng đất và tiền xây dựng nhà nằm trong tổng số tiền 61.700AUD mà bà đã gửi cho ông Sương. Ông Sương chỉ thừa nhận đã nhận của bà Hoa 27.000AUD và 19.500.000 đồng để xây nhà; còn tiền nhận chuyển nhượng đất 28.000.000 đồng là của chị Đẹp. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Rồi (chủ đất) khai ông Sương và chị Đẹp trả tiền nhận chuyển nhượng đất cho ông bằng tiền đô la. Trong khi đó, chị Đẹp thừa nhận bà Hoa có trả tiền mua đất cho chị 3.000AUD, sau đó do bà Hoa hết tiền chi tiêu thì chị Đẹp đưa lại cho bà Hoa. Tại biên bản hòa giải ngày 18/01/2007, bà Phạm Thị Thắm (vợ kế của ông Sương) cũng xác nhận bà Hoa có gửi lại 3.000AUD mua đất, sau này chị Đẹp có gửi lại cho bà Hoa thì bà không biết.

Lẽ ra, phải làm rõ ông Đỗ Tiến Dũng có giao 61.700AUD cho ông Sương hay không? trong số tiền ông Sương đã nhận thì đã bao gồm 3.000AUD để nhận chuyển nhượng đất hay chưa; việc giao nhận tiền để nhận chuyển nhượng đất giữa ông Rồi với ông Sương và chị Đẹp là 28.000.000 đồng hay bằng tiền đô la Mỹ; số tiền 3.000AUD mà chị Đẹp đưa lại cho bà Hoa năm 2002 khi bà Hoa thiếu tiền chi tiêu ở Việt Nam là tiền mượn hay là để trả lại tiền nhận chuyển nhượng đất; bà Hoa có trả cho ông Sương số tiền xây nhà còn thiếu 19.500.00 hay không, trả khi nào? Ông Sương xây nhà cho bà Hoa hết bao nhiêu tiền, có việc ông Sương và bà Hoa cùng mua sắm đồ dùng sinh hoạt gia đình khi xây xong nhà hay không, nếu có thì nguồn tiền mua sắm từ đâu, hết bao nhiêu tiền?

Thì mới đủ căn cứ xác định ai là người bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng đất và số tiền ông Sương đã nhận của bà Hoa là bao nhiêu và có đủ để xây dựng nhà hay không. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ về các vấn để nêu trên nhưng lại xác định bà Hoa bỏ tiền mua đất,từ đó công nhận chị Đẹp có quyền sử dụng đất nhưng phải thanh toán cho bà Hoa giá trị quyền sử dụng đất là chưa đủ căn cứ.

Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều xác định căn nhà do bà Hoa bỏ tiền và ông Sương đứng ra xây dựng, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm công nhận chị Đẹp có quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp, nhưng không xem xét, giải quyết đến căn nhà do bà Hoa xây dựng trên đất tranh chấp là chưa giải quyết triệt để vụ án.

Ngoài ra, trong thực tế Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Sương, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ hộ ông Sương gồm những ai để đưa họ vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297, khoản 1 và khoản 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc hội);

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 463/2008/DSPT ngày 28/11/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 12/2008/DSST ngày 18/09/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về vụ án “Đòi lại tài sản” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Kim Hoa với bị đơn là ông Nguyễn Thế Sương; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Đẹp.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


310
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 38/2013/DS-GĐT ngày 21/05/2013 về vụ án dân sự đòi lại tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Kim Hoa và bị đơn ông Nguyễn Thế Sương
  • Số hiệu:
    38/2013/DS-GĐT
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    21/05/2013
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 38/2013/DS-GĐT ngày 21/05/2013 về vụ án dân sự đòi lại tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Kim Hoa và bị đơn ông Nguyễn Thế Sương

Số hiệu:38/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/05/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về