Quyết định giám đốc thẩm 28/2011/DS-GĐT ngày 18/08/2011 về vụ án dân sự tranh chấp quyền sở hữu nhà, đất

 TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 28/2011/DS-GĐT NGÀY 18/8/2011 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ, ĐẤT

...

Ngày 18-8-2011, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án tranh chấp quyền sở hữu nhà, đất giữa:

Nguyên đơn: Ông Lê Phước Thành sinh năm 1950; trú tại nhà số 125, đường Quang Trung, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ông Lữ Trung Ngươn, sinh năm 1916; ủy quyền cho chị Lữ Thị Cẩm Vân, sinh năm 1955 và anh Trần Quang Minh, sinh năm 1958 đại diện (văn bản ủy quyền ngày 29-6-2005).

Ông Ngươn, chị Vân và anh Minh cùng trú tại nhà số 136/A7 đường Phạm Ngũ Lão, thị xã Trà vinh, tỉnh Trà Vinh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:                                                                                

1) Bà Lữ Ngọc Anh, sinh năm 1928; trú tại số 1, Allée, Désirée - Clary, Sceaux 92330, Cộng hòa Pháp; ủy quyền cho chị Lữ Thị Cẩm Vân và anh Trần Quang Minh đại diện (văn bản ủy quyền ngày 02-4-2008).

2) Anh Phan Nhân Ái, sinh năm 1944; trú tại 326, lô 1, Cư xá Thanh Đa, quận Bình Thạnh; Thành phố Hồ Chí Minh.           

3) Chị Phan Thị Nhân Hiền sinh năm 1970;

4) Chị Phan Nhân Đức Huệ sinh năm 1984;

Chị Hiền và chị Huệ cùng trú tại 232/469R đường Bà Hạt, Phường 9, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

5) Chị Nguyễn Thị Ngọc Kiều sinh năm 1981; trú tại nhà số 136 đường Trần Phú, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 12-6-2005 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Lê Phước Thành trình bày:

Cụ Lữ Long Giao và cụ Võ Thị Diệp có hai người con là bà Lữ Thị Đông và bà Lữ Ngọc Anh. Hai cụ có căn nhà số 136 (nhà lầu, dạng biệt thự) đường Trần Phú, thị xã Trà Vinh và 3 căn nhà phụ phía sau (136/A5, 136/A6 và 136/A7). Năm 1957, cụ Võ Thị Diệp chết, không để lại di chúc.

Năm 1963, cụ Lữ Long Giao cho ông Lữ Trung Ngươn (con nuôi của cụ Lữ Trung Toàn; cụ Toàn là anh ruột của cụ Giao) ở tạm nhà số 136/A7 để lánh nạn vì chiến tranh. Sau giải phóng Miền Nam (năm 1975), bà Đông cho Ban Vận động hồi hương của tỉnh Trà Vinh mượn căn biệt thự làm trụ sở; sau đó cơ quan này giải thể, bà Đông lại cho ông Đỗ Văn Tự (cán bộ Ban Vận động hồi hương) ở và trông coi căn biệt thự này. Năm 1979, cụ Lữ Long Giao lập di chúc cho con gái là bà Lữ Ngọc Anh (Quốc tịch Pháp) thừa kế nhà đất nêu trên. Năm 1980 cụ Giao chết.

Ngày 08-10-1988, bà Lữ Ngọc Anh lập giấy uỷ quyền cho bà Lữ Thị Đông căn nhà 136 đường Trần Phú; được đòi lại căn nhà nêu trên; bà Anh còn nêu rõ: “tôi ưng thuận cho phần tài sản đó để chị tôi được trọn quyền sử dụng”. Sau đó, bà Lữ Thị Đông đã khởi kiện đòi ông Đỗ Văn Tự trả lại nhà đất nêu trên.

Ngày 25-5-1989, Tòa án nhân dân thị xã Trà Vinh xử buộc ông Đỗ Văn Tự trả nhà trên cho bà Lữ Thị Đông, ông Đỗ Văn Tự kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 84/DSPT ngày 17-7-1989, Tòa án nhân dân tỉnh Cửu Long (cũ) quyết định: buộc ông Đỗ Văn Tự trả căn nhà số 136 đường Trần Phú cho bà Lữ Thị Đông; ông Đỗ Văn Tự được tạm sử dụng mảnh đất trống (giáp nhà bà Đông) với chiều rộng 5m, dài 18m, diện tích 90m2, để làm nhà ở bằng vật liệu nhẹ và ông Tự được ở đến khi qua đời; ông Đỗ Văn Tự không được chuyển dịch sở hữu cho bất cứ ai, trừ trường hợp Nhà nước có yêu cầu sử dụng; quản lý (Ngày 22-9-1990 ông Đỗ Văn Tự đã thi hành xong bản án phúc thẩm này).

Ngày 13-8-1992, bà Anh uỷ quyền cho bà Đông có nội dung như sau:

Nhà 136 đường Trần Phú và 03 căn nhà phía sau (136/A5, 136/A6 và 136/A7) trên lô đất thổ cư thuộc phần thừa kế của bà Anh; bà Đông được làm thủ tục quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, được trọn quyền sang bán nhà đất; được ủy quyền lại cho ông Lê Phước Thành thực hiện những việc mà bà Anh đã ủy quyền cho bà Đông; bà Anh còn nêu rõ: “tôi ưng thuận cho phần tài sản đó để chị tôi trọn quyền sử dụng và định đoạt”.

Ngày 01-6-1993, bà Đông uỷ quyền lại cho ông về các vấn đề tranh chấp trước pháp luật liên quan đến nhà số 136 và 3 căn nhà phụ phía sau và lô đất thổ cư nêu trên; ông được trọn quyền sang bán nhà đất này.

Ngày 05-7-1993, bà Đông có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và ngày 07-8-1993 bà Đông có đơn xin hợp thức hóa nhà 136 đường Trần Phú. Ngày 06-9-1993 Ủy ban nhân dân thị xã Trà Vinh đã chứng nhận tại đơn xin hợp thức hóa nhà của bà Đông, nhưng bà Đông không có tiền nộp lệ phí trước bạ nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Ngày 01-02-1999, bà Anh lập giấy cho bà Đông toàn quyền sử dụng nhà lầu và 3 căn nhà phụ nêu trên; bà Anh nêu rõ: bà Đông là “chủ sở hữu những nhà đó”.

Như vậy, bà Lữ Thị Đông là chủ sở hữu nhà đất nêu trên. Bà Đông có chồng là ông Phan Ngươn Tương và có hai người con: anh Phan Nhân Ái và anh Phan Nhân Luân (chết ngày 23-9-1990, có con là chị Phan Thị Nhân Hiền và chị Phan Nhân Đức Huệ). Ngày 23-11-2000 bà Đông chết, không để lại di chúc; ông Tương cũng đã chết. Trong các ngày 19-3-2003, 30-9-2002 và 07-10-2002, anh Ái, chị Hiền và chị Huệ đã có văn bản xác nhận cho ông phần tài sản thừa kế của họ. Do đó, ông được hưởng phần tài sản của bà Đông.

Ngày 31-7-2006, bà Anh lại có văn bản xác nhận ông Ngươn không liên quan đến nhà và đất mà bà Anh đã ủy quyền cho đứt bà Đông vào năm 1988 và năm 1992.

Khi ông tiến hành hợp thức hóa nhà đất này thì ông Lữ Trung Ngươn tự xưng mình là con nuôi của cụ Lữ Long Giao và cụ Võ Thị Diệp và đứng ra tranh cản không cho ông hợp thức hóa nhà đất. Thực tế, ông Ngươn không phải là con nuôi của cụ Giao và cụ Diệp.

Vì các lý do trên, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận cho ông được hưởng di sản của bà Lữ Thị Đông đối với nhà số 136 đường Trần Phú; còn 03 căn nhà phụ phía sau (136/A5, 136/A6 và 136/A7) thì ông không tranh chấp.

Bị đơn là ông Lữ Trung Ngươn trình bày: Căn nhà 13 đường Nguyễn Tri Phương (nay là nhà số 136 đường Trần Phú) và 03 căn nhà phụ phía sau (136/A5, 136/A6 và 136/A7) giáp đường Phạm Ngũ Lão, là tài sản của vợ chồng cụ Lữ Long Giao và cụ Võ Thị Diệp, ông là con cụ Lữ Trung Toàn (anh ruột của cụ Giao) và là con nuôi của cụ Lữ Long Giao và cụ Võ Thị Diệp.

Năm 1963 cụ Lữ Long Giao đã giao cho ông quản lý nhà 136 đường Trần Phú và 3 căn nhà phụ phía sau (trong đó ông ở nhà số 136/A7 để phụng dưỡng cụ Giao và thờ cúng tổ tiên). Năm 1979, cụ Giao lập di chúc cho bà Lữ Ngọc Anh thừa kế nhà đất này, nhưng bà Anh không về Việt Nam xin hưởng thừa kế và cũng chưa sang tên thừa kế nhà đất này.

Bà Lữ Ngọc Anh có ủy quyền cho bà Lữ Thị Đông nhà đất này và đồng ý cho bà Đông ủy quyền lại cho ông Lê Phước Thành thực hiện những việc bà Anh đã ủy quyền cho bà Đông (như nguyên đơn trình bày nêu trên), nhưng đến ngày 28-10-1994 bà Anh đã có văn bản xin rút lại các ủy quyền cho bà Đông trước đây và tuyên bố các ủy quyền trước đây không còn giá trị. Bà Đông đã chết năm 2000, nên việc bà Đông ủy quyền cho ông Thành cũng đã chấm dứt. Ngày 08-6-2007, bà Anh có văn bản hủy bỏ ủy quyền cho ông Thành và tuyên bố thu hồi các uỷ quyền trước đây liên quan đến tài sản mà bà Anh được thừa kế.

Hiện nay, vợ chồng anh Nguyễn Quang Hồng Phúc và chị Nguyễn Thị Ngọc Kiều (cháu của ông Đỗ Văn Tự) đang ở tạm tại căn nhà số 136; còn 03 căn nhà phụ phía sau thì bà Trần Thị Ánh thuê nhà số 136/A5 từ trước năm 1975; anh Nguyễn Hoài Thương ở nhờ nhà số 136/A6 từ khoảng năm 1980; gia đình ông ở nhà số 136/A7.

Do đó, ông yêu cầu Tòa án bác đơn khởi kiện của ông Lê Phước Thành.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lữ Ngọc Anh trình bày: Bà được thừa kế nhà đất nêu trên theo di chúc của cụ Lữ Long Giao vào năm 1979. Do bà cư trú tại Pháp nên đã uỷ quyền cho bà Đông nhà đất này; bà cũng đã đồng ý cho bà Đông uỷ quyền lại cho ông Lê Phước Thành thực hiện những việc mà bà đã uỷ quyền cho bà Đông. Ông Ngươn là con nuôi của cụ Lữ Trung Toàn, chứ không phải là con nuôi của cụ Giao và cụ Diệp (ngày 11-3-2008, bà Anh lại trình bày rằng: ông Ngươn cũng là con nuôi cụ Lữ Long Giao). Do ông Thanh không thực hiện đúng nội dung uỷ quyền, nên năm 1994 bà đã có văn bản rút lại các uỷ quyền cho bà Đông trước đó. Ngày 11-3-2008, bà xin chấm dứt uỷ quyền đối với ông Lê Phước Thành. Bà yêu cầu Toà án tạo điều kiện cho bà được hưởng tài sản thừa kế nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phan Nhân Ái, chị Phan Thị Nhân Hiền và anh Phan Nhàn Đức Huệ trình bày: Các anh, chị là con, cháu của bà Đông được hưởng thừa kế nhà đất này. Các anh, chị đã lập giấy cho ông Lê Phước Thành phần tài sản thừa kế của mình, nên không yêu cầu chia thừa kế nhà đất nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị Ngọc Kiều trình bày: Từ nhỏ, chị đã ở với ông Đỗ Văn Tự tại nhà số 136 đường Trần Phú. Khi lớn lên, chị kết hôn với anh Nguyễn Quang Hồng Phúc; vợ chồng chị ở phần nhà 136 đường Trần Phú. Ông Ngươn không có quyền đòi vợ chồng chị trả nhà. Việc Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh ra “Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” số 01/QĐ-BPKCTT ngày 03-7-2006 giao cho ông Lữ Trung Ngươn và các con (chị Lữ Thị Cẩm Vân và anh Trần Quang Minh) tạm thời quản lý căn nhà số 136 đường Trần Phú (mà vợ chồng chị đang ở), là không đúng. Yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2008/QĐST-DS ngày 21-3-2008, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:

1)  Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 36/DS-ST ngày 31-10-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh về việc “Tranh chấp quyền sở hữu nhà đất” giữa nguyên đơn là ông Lê Phước Thành; bị đơn là ông Lữ Trung Ngươn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lữ Ngọc Anh, anh Phan Nhân Ái, chị Phan Thị Nhân Hiền, chị Phan Nhân Đức Huệ, chị Nguyễn Thị Ngọc Kiều.

2) Các đương sự không phải chịu án phí.

3) Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Ngày 27-3-2008, ông Lê Phước Thành kháng cáo có nội dung: không đồng ý với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên.

Ngày 02-4-2008, bà Lữ Ngọc Anh có giấy ủy quyền cho chị Lữ Thị Cẩm Vân và anh Trần Quang Minh (đều là con của ông Lữ Trung Ngươn) được sở hữu phần thừa kế của bà theo di chúc của cụ Lữ Long Giao năm 1979.

Tại “Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án” số 223/2008/QĐ-PT ngày 20-6-2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2008/QĐST-DS ngày 21-3-2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Ông Lê Phước Thành và anh Phan Nhân Ái có đơn khiếu nại Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên.

Tại Công văn số 35/KN-ĐBQH ngày 27-5-2009, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Trà Vinh kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét lại Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định số 208/QĐ/KNGĐT-V5 ngày 25-12-2009, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị “Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án” số 223/2008/QĐ-PT ngày 20-6-2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên và Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2008/QĐST-DS ngày 21-3-2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh giải quyết lại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Bà Lữ Ngọc Anh (Quốc tịch Pháp) được thừa kế căn nhà (trên lô đất 1.097m2) số 13 đường Nguyễn Tri Phương (cũ), nay là nhà số 136 đường Trần Phú, thị xã Trà Vinh theo di chúc của cụ Lữ Long Giao năm 1979 (trên lô đất này còn có 03 căn nhà phụ mang số 136/A5,136/A6 và 136/A7 giáp đường Phạm Ngũ Lão).

Ngày 08-10-1988, bà Lữ Ngọc Anh lập giấy uỷ quyền cho bà Lữ Thị Đông (chị ruột của bà Anh) căn nhà số 136 đường Trần Phú; được đòi lại căn nhà này; bà Anh còn ghi rõ: “tôi ưng thuận cho phần tài sản đó để chị tôi được trọn quyền sử dụng”. Trên cơ sở ủy quyền này, bà Lữ Thị Đông đã khởi kiện đòi ông Đỗ Văn Tự trả nhà số 136 đường Trần Phú. Ngày 25-5-1989, Tòa án nhân dân thị xã Trà Vinh xét xử sơ thẩm và buộc ông Đỗ Văn Tự trả nhà nêu trên cho bà Lữ Thị Đông. Ông Đỗ Văn Tự kháng cáo. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 84/DSPT ngày 17-7-1989, Tòa án nhân dân tỉnh Cửu Long (cũ) buộc ông Đỗ Văn Tự trả căn nhà số 136 đường Trần Phú cho bà Lữ Thị Đông; ông Đỗ Văn Tự được tạm sử dụng mảnh đất trống (giáp nhà bà Đông), diện tích 90m2, để làm nhà ở bằng vật liệu nhẹ và ở đến khi qua đời.

Sau khi, bà Lữ Thị Đông đòi được nhà đất; ngày 13-8-1992 bà Lữ Ngọc Anh tiếp tục ủy quyền cho bà Lữ Thị Đông được bán nhà đất; ưng thuận cho bà Đông nhà đất này (nhà số 136 đường Trần Phú và 03 căn nhà phụ phía sau) để bà Đông trọn quyền sử dụng và định đoạt; đồng ý cho bà Đông ủy quyền lại cho ông Lê Phước Thành thực hiện những việc mà bà Anh đã ủy quyền cho bà Đông. Tuy ngày 28-10-1994, bà Anh có văn bản rút lại các ủy quyền cho bà Đông trước đó về căn nhà nêu trên, nhưng đến ngày 01-02-1999 bà Anh lại lập “Giấy cho nhà và phần phụ của nhà” có nội dung cho bà Đông toàn quyền sử dụng nhà số 136 và 03 căn nhà phụ phía sau, bà Anh còn ghi rõ: “Đến nay, tôi tuyên bố chị tôi là chủ sở hữu những nhà đó” (Văn bản này có chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền của Cộng hòa Pháp; Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Pháp đã chứng nhận ngày 03-02-1999).

Tại văn bản “Xác nhận ủy quyền” ngày 23-6-2003, bà Anh nêu rằng: “Nguyên trước đây vào ngày 13-8-1992 tôi có làm giấy ủy quyền toàn bộ ngôi nhà 136 và 03 căn nhà 136/A5, 136/A6, 136/A7… cho chị tôi là Lữ Thị Đông. Nay chị tôi đã mất ngày 13-11-2000. Để thuận lợi cho việc làm thủ tục lô đất, tôi xin xác nhận nội dung giấy ủy quyền trên không có gì thay đổi, ngoài việc trọn quyền sử dụng và định đoạt thuộc về các con và cháu của chị tôi theo Luật Thừa kế của Luật Việt Nam”. Đến ngày 31-7-2006 bà Anh lại có văn bản xác nhận ông Ngươn không liên quan đến nhà và đất mà bà Anh đã ủy quyền cho đứt bà Đông vào năm 1988 và năm 1992.

Như vậy, bà Lữ Ngọc Anh đã có nhiều ủy quyền cho bà Lữ Thị Đông căn nhà này, có văn bản cho nhà và phần phụ của nhà và có văn bản tái xác nhận lại việc ủy quyền (sau khi bà Đông chết). Do đó, cần làm rõ bà Đông đã có quyền sở hữu nhà đất này hay chưa; chủ quyền nhà đất của bà Lữ Ngọc Anh đã bị chấm dứt hay chưa. Nếu bà Lữ Thị Đông có quyền sở hữu nhà đất thì ông Lê Phước Thành có quyền khởi kiện (vì con và các cháu nội của bà Đông đã xác nhận cho ông Lê Phước Thành phần tài sản thừa kế của họ). Nếu nhà đất vẫn của bà Lữ Ngọc Anh thì ông Lê Phước Thành không có quyền khởi kiện. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ các vấn đề nêu trên, nhưng lại đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (với lý do ông Lê Phước Thành không có quyền khởi kiện), là không có căn cứ.

Mặt khác, khi Tòa án giải quyết vụ án này thì Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã ra “Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” số 01/QĐ-BPKCTT ngày 03-7-2006 giao cho ông Lữ Trung Ngươn và các con là chị Lữ Thị Cẩm Vân và anh Trần Quang Minh “tạm thời quản lý căn nhà số 136; 136/A7 Phạm Ngũ Lão”; các hộ đang ở tạm trên phần đất nêu trên tiếp tục ở tạm để chờ Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này có sai sót, cụ thể là: ghi sai địa chỉ căn nhà đang tranh chấp (nhà số 136 đường Trần Phú thì ghi là nhà số 136 Phạm Ngũ Lão); ông Lữ Trung Ngươn và các con không quản lý nhà này nhưng lại được giao tạm thời quản lý nhà (hiện nay vợ chồng chị Nguyễn Thị Ngọc Kiều đang ở đây); nhà số 136/A7 đường Phạm Ngũ Lão (do ông Ngươn đang ở) không có tranh chấp thì lại giao cho ông Ngươn và các con tạm thời quản lý. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét và hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên, mà vẫn ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, là có thiếu sót. Ông Lê Phước Thành có đơn kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này, mà vẫn giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên, cũng có thiếu sót. Như vậy, Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nhiều sai sót, nhưng chưa bị Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm hủy, nên vẫn còn hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và thống nhất với kết luận nêu trên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

1.   Hủy “Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án” số 223/2008/QĐ-PT ngày 20-6-2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” số 05/2008/QĐST-DS ngày 21-3-2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/QĐ-BPKCTT ngày 03-7-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu nhà đất” giữa nguyên đơn là ông Lê Phước Thành với bị đơn là ông Lữ Trung Ngươn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lữ Ngọc Anh, anh Phan Nhân Ái, chị Phan Thị Nhân Hiền, chị Phan Nhân Đức Huệ và chị Nguyễn Thị Ngọc Kiều.

2.   Giao hồ sơ vụ án nêu trên về Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật./.

NỘI DUNG ĐỀ XUẤT LỰA CHỌN LÀM ÁN LỆ

“Khi Tòa án giải quyết vụ án này thì Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã ra “Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” số 01/QĐ-BPKCTT ngày 03-7-2006 giao cho ông Lữ Trung Ngươn và các con là chị Lữ Thị Cẩm Vân và anh Trần Quang Minh “tạm thời quản lý căn nhà số 136; 136/A7 Phạm Ngũ Lão”; các hộ đang ở tạm trên phần đất nêu trên tiếp tục ở tạm để chờ Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này có sai sót, cụ thể là: ghi sai địa chỉ căn nhà đang tranh chấp (nhà số 136 đường Trần Phú thì ghi là nhà số 136 Phạm Ngũ Lão); ông Lữ Trung Ngươn và các con không quản lý nhà này nhưng lại được giao tạm thời quản lý nhà (hiện nay vợ chồng chị Nguyễn Thị Ngọc Kiều đang ở đây); nhà số 136/A7 đường Phạm Ngũ Lão (do ông Ngươn đang ở) không có tranh chấp thì lại giao cho ông Ngươn và các con tạm thời quản lý. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét và hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên, mà vẫn ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, là có thiếu sót. Ông Lê Phước Thành có đơn kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này, mà vẫn giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên, cũng có thiếu sót. Như vậy, Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nhiều sai sót, nhưng chưa bị Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm hủy, nên vẫn còn hiệu lực pháp luật.”


120
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
      Bản án/Quyết định đang xem

      Quyết định giám đốc thẩm 28/2011/DS-GĐT ngày 18/08/2011 về vụ án dân sự tranh chấp quyền sở hữu nhà, đất

      Số hiệu:28/2011/DS-GĐT
      Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:18/08/2011
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về