Quyết định giám đốc thẩm 217/2014/DS-GĐT ngày 05/06/2014 về vụ án Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho mượn

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TÓI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 217/2014/DS-GĐT NGÀY 05/06/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT CHO MƯỢN 

Họp phiên tòa ngày 05/6/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho mượn” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Hoài, sinh năm 1927 (đã chết ngày 13/10/2011)

Những người thừa kế của ông Hoài:

1. Bà Phan Thị Ảnh, sinh năm 1930;

2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1950; 

3. Ông Nguyễn Quang Hiểu, sinh năm 1952;

4. Ông Nguyễn Chánh Thông, sinh năm 1961

5. Ông Nguyễn Thế Tài, sịnh năm 1963;

6.  Bà Nguyễn Thị Hoàng Nga, sinh năm 1966;

Cùng địa chỉ: Ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Bà Ảnh, bà Nguyệt, ông Hiểu, ông Thông, ông Tài cùng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hoàng Nga.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tồn, sinh năm 1925.

Đại diện ủy quyền: bà Châu Thị Minh Hằng, sinh năm 1964.

Cùng địa chỉ: Ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Châu Thị Minh Hằng, sinh năm 1964;

2. Bà Châu Thị Minh Nghĩa, sinh năm 1953;

3. Bà Thân Thị Kim Tâm, sinh năm 1979;

4. Bà Dương Thị Tám, sinh năm 1964;

5. Anh Nguyễn Dương Tôn, sinh năm 1988;

6. Chị Nguyễn Thị Kim Khánh, sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Bà Nghĩa, bà Tâm cùng ủy quyền cho bà Châu Thị Minh Hằng.

Bà Tám, chị Khánh, anh Tôn cùng ủy quyền cho bà Nga.

Theo Kháng nghị số 31/2013/KN-DS ngày 15/5/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 322/2013/DSPT ngày 03/7/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

NHẬN THẤY

Theo Đơn khởi kiện ngày 20/7/2006 của ông Nguyễn Văn Hoài, Đơn khởi kiện ngày 30/3/2012 của nhũng người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Hoài và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện cho nguyên đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hoàng Nga trình bày:

Ông Nguyễn Văn Hoài, sinh năm 1927, chết ngày 13/10/2011. Lúc còn sống có đứng đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Tồn về việc yêu cầu buộc bà Tồn phải trả cho ông Hoài 230m2 đất thuộc thửa 928 tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Phần đất nêu trên nằm trong tổng diện tích 4.500m2 có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn Tiên cho ông Nguyễn Văn Hoài và bà Phan Thị Ảnh (vợ ông Hoài) canh tác từ năm 1966. Ông Hoài là người đứng tên kê khai thửa đất này theo chứng khoán ngày 18/7/1972 (thửa số 1023M tờ bản đồ số 135, diện tích 0,48ha).

Năm 1970 ông Hoài cho hai hộ gia đình ở nhờ trên đất gồm hộ ông Phan Trung Trực 405m2, hộ bà Nguyễn Thị Tồn 230m2.

Năm 1984, ông Hoài đứng tên kê khai mục kê 299 toàn bộ diện tích đất 0,48ha nói trên nhưng Cán bộ địa chính xã ghi nhầm diện tích 4.055m2, thửa 1365. Riêng đất ông Hoài cho ông Trực ở nhờ thì cán bộ địa chính xã ghi nhầm là của ông Trực, thửa 1364.

Ngày 02/01/1993, ông Hoài được ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình cấp Quyết định tạm giao quyền sử dụng đất số 01/QĐ-ƯB với diện tích 4.000m2, thiếu phần đất cho ông Trực ở nhờ là 405m2, sau này ông Trực đã trả cho ông Hoài. Ông Trực đã chết, có con là ông Phan Thành Rồng xác nhận.

Năm 1997, hộ gia đình ông Hoài được ủy ban nhân dân huyện Chợ Gạo cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có 3.539m2, thửa số 913 (thửa cũ là 1365). Như vậy, từ Quyết định tạm giao quyền sử dụng đất số 01/QĐ-UB ngày 02/01/1993, khi chuyển qua cấp sổ đỏ ngày 18/7/1997, cán bộ địa chính xã ghi nhầm là thiếu đất của ông Hoài khoảng 500m2. Thực ra tại thời điểm này cán bộ địa chính xã đã tự ý tách thửa 1365 thành 04 thửa là thửa 913, 926 ghi tên ông Hoài, thửa 925 ghi tên ông Nguyễn Văn Tư và thửa 928, diện tích 23 Om2 ghi tên bà Nguyễn Thị Tám trong khi không có cơ sở nào xác định bà Nguyễn Thị Tám và bà Nguyễn Thị Tồn là một người. Bà Tồn không chứng minh được đất này bà mua của ai hoặc của ai cho bà, bà Tồn cũng chưa đứng kê khai mục kê 299. Năm 1995, khi ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình hòa giải, bà Tồn đã đồng ý trả giá trị đất cho ông Hoài là 3.700.000 đồng nhưng bà Tồn không thực hiện đúng thời hạn nên ông Hoài không nhận, ông Hoài tiếp tục khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo. Đen ngày 13/10/2011, ông Hoài chết.

Nay những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hoài yêu cầuTòa án xác định phần đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn Hoài, buộc bà Nguyễn Thị Tồn phải trả cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hoài 180m2 trong số 23Om2 đất nêu trên, phần còn lại 50m(ngang 05m - dài 10m), có 1 cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị Trinh. Nguyên đơn tự nguyện cho bà Tồn tiếp tục sử dụng nhưng bà Tồn phải thanh toán giá trị đất cho nguyên đơn là 650.000 đồng/m2. Yêu cầu bà Tồn giao đất và tiền ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn - bà Nguyễn Thị Tồn trình bày: Thửa đất số 928, tờ bản đồ số 04, diện tích 23 0m2 có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn Tiên là cha của ông Nguyễn Văn Hoài cho bà từ năm 1968. Việc cho đất chỉ nói miệng nhưng có ông Nguyễn Cao Thắng là em trai của ông Nguyễn Văn Hoài xác nhận.

Từ năm 1968, bà đã cất nhà sử dụng ổn định và kê khai thửa đất này trong sổ bộ địa chính xã Tân Thuận Bình do Cán bộ địa chính xã ghi nhầm tên bà Tồn là Nguyễn Thị Tám, sau đó chính quyền địa phương xác nhận bà Nguyễn Thị Tám và Nguyễn Thị Tồn là một người.

Do trước đây bà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên để êm chuyện bà mới đồng ý bồi hoàn giá trị một phần diện tích đất và trả lại một phần diện tích đất cho ông Hoài.

Năm 2011, vì nhà bà bị hư hỏng nặng nên tháo dỡ và xin cấp nhà ở nhờ trên đất của chị Nguyễn Thị Trinh sát bên phần đất tranh chấp.

Ngày 05/5/2008, bà có đơn khởi kiện phản tố không đồng ý trả đất cho ông Hoài. Đồng thời bà bố sung yêu cầu phản tố là yêu cầu Tòa án xác định bà là chủ sử dụng phần đất diện tích 23 Om2, thuộc thửa đất số 928, tờ bản đồ số 04 nêu trên.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Châu Thị Minh Hằng trình bày: bà thống nhất với lời trình bày của bà Tồn.

Vụ án này đã được Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết nhiều lần. Cụ thể như sau:

Tại Quyết định số 42/2006/QĐPT-DS ngày 27/9/2006, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự với lý do nguyên đơn ông Nguyễn Văn Hoài rút đơn khởi kiện. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau đó, ông Nguyễn Văn Hoài kiện lại vụ án theo Đơn khởi kiện ngày 20/7/2006 và Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2006/DSST ngàỵ 01/12/2006, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Hoài. Buộc bà Nguyễn Thị Tồn có trách nhiệm trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông Hoài với số tiền là 12.556.000 đồng. Bà Tồn được toàn quyền sử dụng phần đất diện tích 146m2 tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (có vị trí tứ cận cụ thể)...

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05/12/2006, các nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hoàng Nga, bà Nguyễn Thị Nguyệt có đơn kháng cáo. Ngày 15/12/2006, bà Nguyễn Thị Tồn có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm sổ 204/2007/DSPT ngày 04/5/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định: Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2006/DSST ngày 01/12/2006 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định số 80/2007/QĐST-DS ngày 10/9/2007, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo quyết định: Đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự với lý do người khởi kiện chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13/9/2007, đại diện nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hoàng Nga có đơn kháng cáo đối với Quyết định sơ thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 603/2007/QĐ-PT ngày 08/11/2007 về việc giải quyết kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định: Hủy Quyết định số 80/2007/QĐST-DS ngày 10/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 244/2009/QĐST-DS ngày 03/9/2009, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Bà Nguyễn Thị Tồn và các thành viên trong hộ sẽ giao trả cho hộ ông Nguyễn Văn Hoài quyền quản lý sử dụng 146mđất ở thuộc số thửa 913, diện tích 3.539m2 đất vườn - thổ, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01472 QSDĐ/1692/QĐUB ngày 18/10/1997 do ủy ban nhân dân huyện Chợ Gạo cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Hoài; ông Nguyễn Văn Hoài và các thành viên trong hộ tự nguyện giao cho bà Tồn quyền sử dụng 100m2 đất (ngang 4m X 20m dài) tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (đính kèm bản vẽ sơ đồ hiện trạng đất)...

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí.

Tại Công văn số 02/BĐN-TAH ngày 15/8/2011, Chánh án Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang kháng nghị Quyết định số 244/2009/QĐST-DS ngày 03/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

Tại Kháng nghị giám đốc thẩm số 16/2011/KN-DS ngày 03/10/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang kháng nghị Quyết định sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo. Đề nghị ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử giám đốc thẩm, hủy Quyết định số 244/2009/QĐST-DS ngày 03/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo; Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2012/DSST ngày 24/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang quyết định:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định ông Nguyễn Văn Hoài là chủ sử dụng thửa số 928, tờ bản đồ số 04, diện tích 230m2, tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, buộc bà Nguyễn Thị Tồn phải trả cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Hoài 180m2 đất và hoàn trả giá trị của 50m2 đất trong tổng số 230m2 đất nêu trên với số tiền là 32.500.000 đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Tồn về việc yêu cầu Tòa án xác định bà Nguyễn Thị Tồn là chủ sử dụng của thửa đất số 928, tờ bản đồ số 04, diện tích 230m2, tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang và yêu cầu buộc ông Hoài phải trả cho bà Tồn thửa đất nêu trên.

3. Ông Nguyễn Văn Hoài là chủ sử dụng thửa đất số 928, tờ bản đồ số 04, diện tích 230m2, tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Ong Hoài chết có những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Hoài là bà Phan Thị Anh, bà Nguyễn Thị Nguyệt, ông Nguyễn Quang Hiểu, ông Nguyễn Chánh Thống, ông Nguyễn Thế Tài và bà Nguyễn Thị Hoàng Nga được trọn quyền sử dụng thửa đất trên (có sơ đồ kèm theo).

- Buộc hộ bà Nguyễn Thị Tồn phải trả cho bà Phan Thị Ảnh, bà Nguyễn Thị Nguyệt, ông Nguyễn Quang Hiểu, ông Nguyễn Chánh Thống, ông Nguyễn Thế Tài và bà Nguyễn Thị Hoàng Nga 180m2 đất thuộc thửa đất số 928, tờ bản đồ số 04, diện tích 23 Om2, tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyệnChợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị Hoàng Nga tự nguyện cho bà Nguyễn Thị Tồn trọn quyền sử dụng 5 Om2 đất (ngang 05m X dài 10m) nằm trong diện tích 230m2 đất nêu trên (có sơ đồ kèm theo).

Bà Nguyễn Thị Tồn được trọn quyền sử dụng 5Om2 đất nêu trên thuộc thửa 928, tờ bản đồ số 4, tọa lạc ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Buộc bà Nguyễn Thị Tồn phải hoàn trả giá trị của 5 Om2 đất nêu trên cho bà Phan Thị Ảnh, bà Nguyễn Thị Nguyệt, ông Nguyễn Quang Hiểu, ông Nguyễn Chánh Thống, ông Nguyễn Thế Tài và bà Nguyễn Thị Hoàng Nga với số tiền là 32.500.000 đồng, trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 27/8/2012, bà Châu Thị Minh Hằng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là đại diện ủy quyền của bị đơn có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 322/2013/DSPT ngày 03/7/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Châu Thị Minh Hằng.

Sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm số 120/2012/DSST ngày 24/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Hoài và những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Hoài là Phan Thị Ảnh, Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Quang Hiểu, Nguyễn Chánh Thống, Nguyễn Thế Tài, Nguyễn Thị Hoàng Nga về việc tranh chấp quyền sử dụng diện tích đất 230m2 thuộc thửa 928 tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đối với bà Nguyễn Thị Tồn.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Nguyễn Thị Tồn. Công nhận diện tích đất 230m2 thuộc thửa 928, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang cho bà Nguyễn Thi Tồn kê khai, đăng ký theo sổ mục kê 299 là thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Tồn, diện tích 230m2 có vị trí, tứ cận cụ thể (có sơ đồ vị trí khu đất kèm theo). Bà Nguyễn Thị Tồn có quyền kê khai, đăng ký diện tích 23Om2 đất trên để được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định vế án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Hoàng Nga là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Hoài và là đại diện ủy quyền của các đồng thừa kế có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Kháng nghị số 31/2014/KN-DS ngày 15/5/2014, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 322/2013/DSPT ngày 03/07/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang. Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật với nhận định như sau:

“Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Tồn phải trả diện tích 23 Om2 đất thuộc thửa 928 tờ bản đồ số 04, vì cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp nằm trong diện tích 0,48ha đất là của cụ Nguyễn Văn Tiên (cha ông Hoài) đã cho ông Hoài canh tác và đứng tên kê khai thửa đất theo chứng khoán ngày 18/7/1972 (thửa số 1023M, tờ bản đồ số 135). Năm 1968, cụ Tiên cho hai hộ gia đình ở nhờ trên đất, gồm hộ ông Phan Trung Trực 405m2 (nay đã trả), hộ bà Nguyễn Thị Tồn 230m2.Năm 1984, ông Hoài đứng tên kê khai sổ mục kê 299 toàn bộ diện tích đất trên với số thửa là 1365, diện tích 4.055m2. Trong khi đó, phía bị đơn (bà Tồn) khẳng định thửa đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà, vì bà được cụ Tiên (cha ông Hoài) cho, đã làm nhà ở trên thửa đất đó từ năm 1968 nên không nhất trí trả đất theo yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, các đương sự đều thừa nhận diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Tiên (cha ông Hoài) và đều cho rằng đã được cụ Tiên cho.

Xét “Giấy xác nhận sự thật” ngày 18/5/2012 của ông Huỳnh Kim Anh (nguyên cán bộ địa chính xã) và “Giấy xác nhận sự thật” ngày 03/6/2012 của ông Nguyễn Văn Hòa (nguyên Chủ tịch ủy ban nhân dân xã) xác nhận, vào năm 1996-1997, khi đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cán bộ địa chính do sơ ý không hỏi rõ nguồn gốc đất này của ông Hoài mà nghe lời của ông Nguyễn Văn Đầy (cán bộ ấp) nên đã tách thửa 1365 của ông ra thành 4 thửa và ghi tên chủ sử dụng của các thửa như sau: Thửa 913, 926 ghi tên ông Nguyễn Văn Hoài; thửa 925 ghi tên ông Nguyễn Văn Tư; thửa 928 ghi tên bà Nguyễn Thị Tám. Tại “Biên bản xác minh” ngày 28/4/2009 và “Đơn xin xác nhận” ngày 22/8/2012, cán bộ địa chính xã Tân Thuận Bình xác nhận, thửa 928 do bà Nguyễn Thị Tám kê khai trong sổ mục kê đất năm 1997 nằm trong thửa 1365, tờ bản đồ số 01, diện tích 4.055m2 của ông Nguyễn Văn Hoài (sổ mục kê đất 299 năm 1984).

Theo nội dung “Giấy xác nhận sự thật”, “Biên bản xác minh” và “Đơn xin xác nhận” nêu trên thì đều phù họp với lời khai của nguyên đơn. Như vậy, có cơ sở xác định phần đất đang tranh chấp thuộc thửa 928 tờ bản đồ số 04 được tách ra từ thửa 1365 tờ bản đồ số 01 là của ông Hoài.

Mặt khác, tại Biên bản giải quyết tranh chấp đất đai ngày 02/11/1995 giữa hộ ông Hoài với bà Tồn ở ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình hai bên thỏa thuận hộ ông Hoài cho hộ bà Nguyễn Thị Tồn tiếp tục sử dụng thửa đất nhưng bà Tồn phải thanh toán trả cho hộ ông Hoài 3.606.400đ, do bà Tồn không thực hiện đúng thỏa thuận nên ông Hoài có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bà Tồn phải trả đất.

Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2006/DSST ngày 01/12/2006 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo quyết định cho bà Tồn được toàn quyền sử dụng 146m2 trong tổng số 230m2 đất tại thửa 928, nhung bà Tồn phải có trách nhiệm trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông Hoài là 12.556.000đ, do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng nên bản án đã bị hủy. Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 244/2009/QĐST-DS ngày 03/9/2009, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đã công nhận sự thỏa thuận giữa hai bên với nội dung bà Tồn phải giao trả diện tích 146m2 đất ở thuộc thửa 913 cho ông Hoài, nhưng do xác định sai số thửa nên quyết định đã bị hủy bỏ.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Hoài. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Hoài, buộc bà Tồn trả lại 180m2 đất trong số 230mđất tranh chấp và cho bà Tồn được sử dụng 5 Om2 nhưng phải trả cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hoài giá trị đất là 32.500.000đ là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoài và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Tồn là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của gia đình ông Hoài”.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 05/6/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên những nội dung đã nêu trong kháng nghị. Đề nghị Hội đồng Giám đốc thẩm chấp nhận Kháng nghị nêu trên của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì diện tích đất 230mthửa 928, tờ bản đồ 04 các đương sự đang tranh chấp tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang là nằm trong tổng diện tích đất 0,48ha có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn Tiên, cha của ông Nguyễn Văn Hoài.

Năm 1966, cụ Tiên cho ông Hoài canh tác diện tích đất nêu trên. Vào năm 1968, cụ Tiên cho hai hộ gia đình ở nhờ trên đất gồm hộ ông Phan Trung Trực 405m2, hộ bà Nguyễn Thị Tồn 23 Om2. Năm 1972, cụ Tiên cho ông Nguyễn Văn Hoài đứng tên kê khai, sử dụng 0,48ha đất theo Chứng khoán ngày 18/7/1972 (BL365) và Chứng thư cấp quyền sở hữu cấp quyền sở hữu ngày 18/7/1972 của Tổng trưởng cải cách điền địa và phát triển nông ngư mục (BL65). Theo các Trích lục hồ sơ địa chính số 119/TL-TT ngày 17/4/2009 (BL 213); số 757/TTCN ngày 16/12/2010 (BL 456) của Trung tâm công nghệ thông tin thuộc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Tiền Giang thì tại sổ đăng ký ruộng đất hồ sơ 299 đất vườn được lập năm 1984, thửa số 1365, tờ bản đồ số 01, diện tích 4.055m2 đất màu, tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sử dụng là Nguyễn Văn Hoài. Còn theo Trích lục hồ sơ địa chính số 269 TTCNTT ngày 07/7/2011 (BL 455) thì thửa số 1364, diện tích 405m2 đất thổ tọa lạc tại địa chỉ nêu trên, đứng tên Phan Trung Trực, được lập năm 1984. Tại Đơn ngày 07/4/2011 của ông Hoài (BL 322), ông Phan Thành Rồng- con trai ông Phan Trung Trực xác nhận: cụ Tiên có cho ông Trực ở tạm 405m2, năm 1997 ông Trực chết, ông Rồng tiếp tục sử dụng, đến năm 2000 ông Rồng trả lại diện tích đất nêu trên cho ông Hoài, sự việc này được Uỷ ban nhân dân xã Tân Thuận Bình xác nhận. Như vậy, diện tích đất do ông Hoài đứng tên năm 1972 là 0,48ha, đến năm 1984 đã được chia thành 02 thửa 1365 và 1364 do ông Hoài, ông Trực đăng ký kê khai theo hồ sơ đất 299 với diện tích là 4500m2.

Liên quan đến thửa 1365 nêu trên do ông Hoài đứng tên kê khai năm 1984, tại “Giấy xác nhận sự thật” ngày 18/5/2012 về việc đo đạc tách thửa phàn đất gốc (thửa 1365) của ông Hoài thời kỳ 1996-1997 (BL 458). Ông Huỳnh Kim Anh, nguyên cán bộ địa chính thời kỳ năm 1996-1997, người trực tiếp đi đo đạc lại toàn bộ phần đất của xã Tân Thuận Bình xác nhận: năm 1996, ông Nguyễn Văn Đầy, cán bộ ấp dẫn ông đi đo thực tế hiện trạng. Do sơ ý, không hỏi rõ nguồn gốc đất này là của ông Hoài mà nghe lời cán bộ ấp nên ông tách thửa 1365 của ông Hoài thành 4 thửa: 913, 925, 926, 928 và ghi thửa 913: 3539m2, thửa 926: 136m2 ghi tên ông Hoài; thửa 925: 397m2 ghi tên ông Nguyễn Văn Tư; thửa 928: 230m2 ghi tên bà Nguyễn Thị Tám. Ông thừa nhận vào thời điểm đó việc tách thửa đất nêu trên, ông đã ghi nhầm 2 thửa 925 và 928 của ông Tư, bà Tồn mà ông không biết.

Tại “Giấy xác nhận sự thật” ngày 05/6/2012 về việc đo đạc phần đất của ông Hoài và cấp quyền sử dụng đất thời điểm năm 1997 (BL 457), ông Nguyễn Văn Hòa, nguyên Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình thời kỳ nêu trên xác nhận những nội dung như ông Huỳnh Kim Anh đã trình bày, đồng thời xác nhận thêm: khi làm và cấp sổ năm 1997 thì chỉ ghi số sổ quyền sử dụng đất có 01 thửa 913 nên ông Hoài có khiếu nại ra Hội đồng xét cấp đất của xã, Hội đồng đã xem lại thì biết ông Anh ghi tách thửa 925 cho ông Tư, thửa 928 cho bà Tám. Mặt khác, tại Biên bản xác minh ngày 28/4/2009 (BL211), xác nhận ngày 20/5/2011 tại Đơn ngày 18/5/2011 của ông Hoài (BL319) và Biên bản xác minh ngày 10/4/2012 (BL386), ông Nguyễn Minh Hải, cán bộ địa chính xã Tân Thuận Bình xác nhận với nội dung: thửa 928, tờ bản đồ số 04, diện tích 230m2 do bà Nguyễn Thị Tám đứng trên kê khai trong sổ mục kê đất năm 1997 nằm trong thửa 1365 tờ bản đồ số 01 diện tích 4.055m2 của ông Nguyễn Văn Hoài (sổ mục kê đất 299 năm 1984) và qua xác minh ấp Tân Phú 2 thì thửa đất số 928 đứng tên bà Nguyễn Thị Tồn, sử dụng trước năm 1975. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định phần đất đang tranh chấp thuộc thửa 928 tờ bản đồ số 04 được tách ra từ thửa 1365 tờ bản đồ số 01 là của ông Hoài.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà Tồn có đơn yêu cầu phản tố ngày 05/5/2008 (BL168), theo đó khẳng định thửa đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà vì bà được cụ Tiên (cha ông Hoài) cho đất, bà làm nhà trên thửa đất từ năm 1968 và ở ổn định cho đến nay nên yêu cầu được sử dụng diện tích 230mđất, thửa 928 tờ bản đồ số 04... Như vậy, bà Tồn cũng thừa nhận diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Tiên - cha ông Hoài. Nhưng bà Tồn cho rằng đã được cụ Tiên cho đất từ năm 1968 và được ông Nguyễn Cao Thắng - em ruột ông Hoài cùng một số người làm chứng khác xác nhận. Tuy nhiên, theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì xác nhận ngày 11/5/2012 của ông Thắng (BL376) là không khách quan vì chính ông Thắng đang có tranh chấp với ông Hoài về lối đi có liên quan đến quyền sử dụng đất của ông Hoài và Tòa án có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai bên. Đồng thời theo xác minh ngày 07/5/2009 của ông Lưu Văn Thảo - Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình (BL212) thì cụ Tiên cho bà Tồn cất nhà trên đất để ở nhờ. Khi cụ Tiên chết để lại đất cho ông Hoài. Mặt khác, tranh chấp về diện tích đất tại thửa 928, tờ bản đồ số 04 giữa bà Tồn và ông Hoài phát sinh đất giữa hai bên là từ năm 1995.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp đất giữa hai bên của chính quyền địa phương và sau này là của Tòa án, bà Tồn luôn thể hiện ý chí xin được tiếp tục sử dụng thửa đất tranh chấp và đồng ý thanh toán bằng giá trị cho ông Hoài hoặc đồng ý giao trả lại một phần diện tích đất cho ông Hoài trên cơ sở hộ ông Hoài tự nguyện cho bà Tồn được sử dụng một phần diện tích đất tranh chấp để tiếp tục sử dụng... (Biên bản giải quyết tranh chấp đất đai ngày 20/5/1995 (BL41+42) ngày 02/11/1995 - BL39+40 tại ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình, Biên bản hòa giải ngày 23/10/2006 (BL74+75); Biên bản hòa giải thành ngày 25/8/2009 - BL225...). Do đó, có căn cứ xác định bà Tồn thừa nhận phần đất tại thửa 928 tờ bản đồ số 04 là của ông Hoài. Tổng họp những nội dung nêu trên, có đủ cơ sở khẳng định phần diện tích đất tranh chấp tại thửa 928 tờ bản đồ số 04 là thuộc quyền sử dụng của ông Hoài.

Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Nguyễn Văn Hoài là chủ sử dụng thửa đất số 928 tờ bản đồ số 04 diện tích 230m2, tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, buộc bà Tồn phải trả lại 180m2 và cho bà Tồn được sử dụng 5Om2 đất nhưng phải trả cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hoài giá trị đất là 32.500.000 đồng là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoài và của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hoài; chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Tồn là không đúng với quy định của pháp luật và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Ngoài ra, về tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm còn có thiếu sót, thể hiện tại Biên bản phiên tòa phúc thẩm ngày 26/6/2013 (BL465+475). Sau khi tiến hành xong phần tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm quay lại phần hỏi (BL466).

Theo quy định tại Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự thì sau khi hỏi xong phải tiếp tục phần tranh luận, tuy nhiên Biên bản phiên tòa phúc thẩm không phản ánh có phần tranh luận này.

Với các nhận định trên, có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo hướng hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 322/2013/DSPT ngày 03/07/2013 của Tòa án cấp phúc thẩm; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án câp phúc thẩm xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật. Khi giải quyết lại vụ án, nếu các đưong sự không cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung giải quyết vụ án thì cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2012/DSST ngày 24/8/2012 của Tòa án cấp sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

-  Chấp nhận Kháng nghị số 31/2013/KN-DS ngày 15/5/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 322/2013/DSPT ngày 03/7/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về vụ án “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho mượn” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Hoài và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Hoài là các ông, bà: Phan Thị Anh, Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Quang Hiển, Nguyễn Chánh Thông, Nguyễn Thế Tài, Nguyễn Thị Hoàng Nga với bị đơn là bà Nguyễn Thị Tồn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các bà: Châu Thị Minh Hằng, Châu Thị Minh Nghĩa, Thân Thị Kim Tâm, Dương Thị Tám; anh Nguyễn Dương Tôn, Chị Nguyễn Thị Kim Khánh.


129
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 217/2014/DS-GĐT ngày 05/06/2014 về vụ án Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho mượn

Số hiệu:217/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/06/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về