Quyết định giám đốc thẩm 20/2008/DS-GĐT ngày 29/07/2008 về vụ án ly hôn và chia tài sản khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 20/2008/DS-GĐT NGÀY 29/07/2008 VỀ VỤ ÁN LY HÔN VÀ CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN

Ngày 29 tháng 7 năm 2008, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án “ly hôn và chia tài sản khi ly hôn”giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hàng, sinh năm 1947; trú tại: tổ 2, ấp Hòa Thới, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơnÔng Huỳnh Văn Nguyên, sinh năm 1951; trú tại: ấp Hòa Thới, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Hồ Thị Hành, sinh năm 1925 (cụ Hành ủy quyền cho con là ông Nguyễn Văn Phân, sinh năm 1966); cùng trú tại tổ 2, ấp Hòa Thới, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

2. Chị Huỳnh Thị Phấn; sinh năm 1982; hiện đang sinh sống ở Đài Loan.

3. Anh Huỳnh Hữu Lợi; sinh năm 1975; trú tại tổ 3, ấp Hòa Thới, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

4. Ông Lại Văn Chanh; sinh năm 1966; trú tại tổ 2, ấp Mỹ Hòa, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

NHẬN THẤY

Tại đơn xin ly hôn ngày 10-10-2002 và quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị Hàng (là nguyên đơn) trình bày: Bà và ông Huỳnh Văn Nguyên chung sống với nhau từ năm 1974, không đăng ký kết hôn và có 05 người con chung gồm: Anh Huỳnh Hữu Lợi (sinh 1975); chị Huỳnh Thanh Tuyền (sinh 1977); chị Huỳnh Thị Phấn (sinh 1982); chị Huỳnh Thị Bé Chín (sinh 1987); chị Huỳnh Thị Chọn (sinh 1991). Do có mâu thuẫn, nên bà xin ly hôn.

Về con chung đề nghị chấp nhận theo nguyện vọng của các con.

Về tài sản:

1. Nhà ở: Nhà chính diện tích 68,61m2 và các công trình phụ trên diện tích 360m2 đất (thửa số 273) có giá trị 64.802.292 đồng và một số đồ dùng sinh hoạt như tủ, giường... có giá trị là 6.814.000 đồng.

2. Về đất: Tài sản gồm có 07 thửa đất trong đó có 03 thửa đất trồng lúa (thửa số 853 diện tích 1.590m2; thửa số 266 diện tích 630m2; thửa số 264 diện tích 760m2); 02 thửa đất vườn (thửa số 268 diện tích 450m2; thửa số 269 diện tích 920m2) và 02 thửa đất thổ mộ (thửa số 265 diện tích 360m2; thửa số 270 diện tích 200m2).

Tổng cộng giá trị toàn bộ các thửa đất là 94.410.000 đồng. Tất cả các thửa đất nêu trên đều do ông Nguyên đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày 01-10-1996.

Ngoài ra còn 02 thửa đất không được định giá gồm:

Thửa số 260 diện tích 2.310m2 (đất 2 lúa) và thửa đất này bà và ông Nguyên thỏa thuận cho anh Lợi (con của ông, bà).

Riêng thửa số 271 diện tích 780m2 (có 01 nền nhà) cụ Hành (mẹ của bà) cho bà, hiện nay mẹ bà vẫn đứng tên, diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Giá trị cây trồng trên các thửa đất là 17.313.000 đồng.

Nguồn gốc các diện tích đất nêu trên là của cha, mẹ bà để lại cho bà. Nên bà đồng ý chia cho ông Nguyên nền nhà có diện tích 330m2 (ngang 11m, dài 30m) trên thửa đất số 271 diện tích 780m2, còn bà yêu cầu được sử dụng nhà chính và sẽ thanh toán tiền cho ông Nguyên.

Riêng nhà phụ, nhà tắm, hồ nư­ớc, sân gạch tàu, chuồng heo, bờ kè là tài sản riêng của bà, ông Nguyên không có công sức đóng góp vào khối tài sản này nên không đồng ý chia cho ông Nguyên.

Ngoài ra tài sản riêng của bà còn có 05 chỉ vàng, trong đó: 03 chỉ vàng 18K và 02 chỉ vàng 24K do chị Phấn (con của bà) cho riêng bà.

4. Giá trị heo là 15.920.000 đồng. Số lượng heo do bà nuôi riêng, nên đề nghị xác định là tài sản riêng của bà.

5. Về nợ: 05 chỉ vàng bà cho ông Tám nợ là tiền bán heo và ông Nguyên còn nợ bà số tiền 3.655.000 đồng, đây là tài sản riêng của bà.

Bị đơn ông Huỳnh Văn Nguyên đồng ý ly hôn và chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà Hàng.

Về nhà đất ông Nguyên cho rằng tuy có nguồn gốc của cha, mẹ bà Hàng nhưng đã cho chung vợ chồng và các thửa đất đều do ông đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, toàn bộ diện tích đất nêu trên là tài sản chung nên yêu cầu chia. Ông xin đư­ợc chia 01 căn nhà và các tài sản khác trên diện tích 400m2 đất để ở còn phần đất ruộng và đất vườn đồng ý giao cho bà Hàng và yêu cầu chia 1/2 số tiền bán heo.

Về nợ: Bà Hai còn nợ 3.000.000 đồng; ông Tám còn nợ 05 chỉ vàng, bà Trang còn nợ 800.000 đồng, ông yêu cầu chia đôi số tiền nêu trên.

Ng­ười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn Phân (là con của cụ Hành) trình bày: Cụ Hành và ông có đổi 154m2 đất cho ông Nguyên, bà Hàng để lấy thửa 265 diện tích 360m2 (hiện vẫn do ông Nguyên đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Đề nghị công nhận việc hoán đổi. Tất cả đất của ông Nguyên, bà Hàng đều phải đi qua đất cụ Hành, nên nếu chia đất cho ông Nguyên thì ông đồng ý cho ông Nguyên sử dụng lối đi, nh­ưng ông Nguyên không đư­ợc bán.

- Chị Huỳnh Thị Phấn (là con của ông Nguyên, bà Hàng) trình bày: Ngày 13-8-2004 vợ chồng chị mua tặng bà Hàng 05 chỉ vàng. Cho cha mẹ 17.000.000 đồng để mua xe máy, việc giải quyết là do cha mẹ chị thoả thuận.

- Anh Huỳnh Hữu Lợi (là con của ông Nguyên, bà Hàng) trình bày: Cha mẹ đồng ý cho anh thửa 260 diện tích 2.310m2 (đất 2 lúa), anh yêu cầu đư­ợc sử dụng thửa đất này.

- Chị Huỳnh Thị Bé Chín và chị Huỳnh Thị Chọn (là con của ông Nguyên, bà Hàng) trình bày: Hiện nay các chị sống cùng cha mẹ, nếu cha mẹ ly hôn thì chị xin sống cùng với mẹ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 15/HNST ngày 16-5-2005, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long quyết định:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Hàng đư­ợc ly hôn với ông Huỳnh Văn Nguyên.

Về con chung: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Hàng đư­ợc nuôi cháu Huỳnh Thị Chọn sinh năm 1991.

Tiền cấp dư­ỡng nuôi con: Công nhận phần tự nguyện của ông Nguyên cấp dưỡng nuôi con cho cháu Huỳnh Thị Chọn mỗi tháng 145.000 đồng, đến khi cháu Chọn đủ 18 tuổi, ông Nguyên đư­ợc quyền đến thăm con chung, không ai đư­ợc quyền ngăn cản.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hàng đ­ược chia các tài sản như­ sau: Nhà ở, nhà chính, nhà phụ, hành lang, sân gạch tàu, nhà tắm, hồ nư­ớc, chuồng heo, bờ kè và phần đất gắn với nhà và các vật kiến trúc trên số thửa 273, diện tích 360m2 loại đất thổ quả tọa lạc tại tổ 2, ấp Hòa Thới, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, đất do ông Huỳnh Văn Nguyên đứng tên đư­ợc cấp ngày 01-10-1996. Buộc bà Nguyễn Thị Hàng phải thanh toán 1/2 giá trị tài sản trên cho ông Nguyên với số tiền 32.401.146 đồng.

Ông Nguyên đư­ợc l­ưu cư­ trong thời gian 06 tháng tính từ khi bản án có hiệu lực thi hành.

Tài sản trong nhà: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Hàng đư­ợc chia và sở hữu các tài sản như­ sau: 01 điện kế, 01 bàn chữ H và 08 ghế đai, 01 gư­ờng ngủ (hộp), 01 tủ áo, 01 cái chõng, 01 mô tưa 1,5 mã lực, 01 chiếc xuồng, 01 bộ đồ nấu rư­ợu (06 lu+ 01 nồi + 01 khạp), 01 tủ chén.

Ông Huỳnh Văn Nguyên đư­ợc chia:

- 01 tủ thờ.

- 03 cái chõng (gỗ tạp).

Về heo: Bà Nguyễn Thị Hàng đư­ợc chia: Heo nái 02 con, 12 con heo lứa, 16  heo con trị giá: 13.520.000 đồng số tài sản này  bà Hàng quản lý.

Ông Huỳnh Văn Nguyên đư­ợc chia 02 con heo nái do bà Hàng đang nuôi.

Về đất: Bà Hàng đư­ợc chia phần đất thuộc các thửa sau:

- Thửa 853 diện tích 1.590m2 đất 02 lúa.

- Thửa 266 diện tích 630m2 02 lúa.

- Thửa 264 diện tích 760m02 lúa.

- Thửa 270 diện tích 200m2 đất nghĩa địa.

- Thửa 268 diện tích 450m2 cây  lâu năm khác.

-Thửa 269 diện tích 920mđất màu.

Ông Hùynh Văn Nguyên đư­ợc chia và tạm giao phần đất số thửa 271 diện tích 780m2 và cây trồng trên đất (đất lâu năm khác).

 Tất cả các phần đất trên do ông Huỳnh Văn Nguyên đứng tên đư­ợc cấp ngày 01-10-1996 cùng tọa lạc tại tổ 2, ấp Hòa Thới, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Nguồn gốc đất của bà Hồ Thị Hành đẻ ra bà Nguyễn Thị Hàng cho.

Riêng thửa 271 chư­a đư­ợc cấp quyền sử dụng đất.

Công nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn Phân dành cho ông Huỳnh Văn Nguyên một lối đi từ thửa 271 nêu trên qua phần đất của bà Hành để ra lối đi công cộng đến khi nào ông Nguyên không sử dụng nữa thì thôi.

Công nhận sự thỏa thuận chuyển đổi thửa 265 diện tích 360m2 từ quyền sử dụng đất của ông Nguyên, bà Hàng sang cho bà Hồ Thị Hành đ­ược quyền sử dụng hiện tại ông Nguyên đang đứng tên quyền sử dụng đất đư­ợc cấp ngày 01-10-1996 cùng tọa lạc địa chỉ nêu trên. Các đư­ơng sự có nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất các phần đất nói trên đã đư­ợc phân chia.

Công nhận sự tự nguyện của ông Huỳnh Văn Nguyên và bà Nguyễn Thị Hàng cho ông Huỳnh Hữu Lợi số thửa 260 diện tích 2.310m2 02 lúa cùng tọa lạc nói trên do ông Nguyên  đứng tên.

Nợ phải thu, phải trả: Các đư­ơng sự không yêu cầu.

Công nhận sự thỏa thuận của ông Huỳnh Văn Nguyên và bà Nguyễn Thị Hàng phần chiếc xe honđa số 64K3-6745 do ông Lại Văn Chanh đứng tên để tự giải quyết sau khi có con là Huỳnh Thị Phấn từ Đài Loan về.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 27-5-2005, ông Huỳnh Văn Nguyên có đơn kháng cáo với nội dung:  yêu cầu được chia thửa đất số 853 (diện tích 1.590m2) là đất ruộng và thửa đất số 269 (diện tích 920m2) đất màu, yêu cầu chia đôi giá trị heo, 05 chỉ vàng (do ông Tám nợ) và phần tài sản trong nhà.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 35/HNPT ngày 03-8-2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định: không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn Nguyên; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Huỳnh Văn Nguyên có đơn khiếu nại với nội dung: Không nhất trí bản án phúc thẩm về việc phân chia tài sản chung.

Tại Quyết định số 42/2008/DS-KN ngày 13-3-2008, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với phần phân chia tài sản chung tại bản án phúc thẩm nêu trên; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy phần phân chia tài sản chung tại bản án ly hôn phúc thẩm số 35/HNPT ngày 03-8-2005 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án ly hôn sơ thẩm số 15/HNST ngày 16-5-2005 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại phần phân chia tài sản chung theo đúng quy định của pháp luật với nhận định: 

Tuy nguồn gốc diện tích đất (đất thổ quả, đất nông nghiệp, đất nghĩa địa) mà bà Nguyễn Thị Hàng và ông Huỳnh Văn Nguyên quản lý sử dụng là của cha mẹ của bà Hàng, như­ng cha mẹ bà Hàng đã cho ông, bà từ năm 1975; sau khi được cho, ông Nguyên, bà Hàng đã quản lý, sử dụng xây cất nhà ở, công trình phụ để ổn định cuộc sống và trồng nhiều cây l­ưu niên; năm 1996, ông Nguyên đã đăng ký kê khai và đư­ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 07 thửa đất có diện tích 4.910m(gồm thửa 853 diện tích 1.590m2, thửa 266 diện tích 630m2, thửa 264 diện tích 760m2, đều là đất trồng lúa; thửa 270 diện tích 200m2 là đất nghĩa địa; thửa 268 diện tích 450m2 là đất trồng cây lâu năm; thửa 269 diện tích 920m2 là đất màu và thửa 273 diện tích 360mlà đất thổ quả có nhà ở và các vật kiến trúc), riêng thửa 271 diện tích 780m2 là đất trồng cây lâu năm như­ng chư­a đư­ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như­ vậy, có cơ sở xác định bà Hàng đã đồng ý nhập quyền sử dụng các thửa đất nêu trên vào là tài sản chung vợ chồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định các công trình xây dựng trên đất và toàn bộ diện tích đất nêu trên là tài sản chung vợ chồng ông Nguyên, bà Hàng để chia khi ly hôn là có căn cứ và đúng pháp luật.

Tuy nhiên, khi chia hiện vật, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm giao căn nhà gắn liền với thửa đất số 273 có diện tích 360m2 và 6 thửa đất (đều đã đ­ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho bà Hàng; còn chỉ giao cho ông Nguyên đ­ược tạm thời quản lý, sử dụng thửa đất số 271 (ch­ưa đư­ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải đi nhờ qua phần đất của bà Hàng đư­ợc chia) và chỉ buộc bà Hàng thanh toán lại 1/2 giá trị nhà đất tại thửa 273 cho ông Nguyên là không đảm bảo quyền lợi của ông Nguyên.

Lẽ ra phải xác định chính xác công sức của ông Nguyên, bà Hàng trong việc tạo lập khối tài sản chung, xác định nhu cầu và điều kiện thực tế của mỗi bên về việc sử dụng nhà đất, trên cơ sở đó chia hiện vật cho các đư­ơng sự phần nhà đất tương xứng với công sức đã xác định và nếu có chênh lệch giá trị tài sản đư­ợc chia thì phải buộc các bên thanh toán cho nhau.

 Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thì nguồn gốc 07 thửa đất (đang do bà Nguyễn Thị Hàng và ông Huỳnh Văn Nguyên sử dụng) có diện tích 4.910m2, là của cha mẹ bà Hàng đã cho bà Hàng, ông Nguyên sử dụng từ năm 1975 (gồm có 3 thửa đất trồng lúa là thửa số 853 có diện tích 1.590m2, thửa số 266 có diện tích 630m2, thửa số 264 có diện tích 760m2; 01 thửa đất nghĩa địa là thửa số 270 có diện tích 200m2; 01 thửa đất trồng cây lâu năm là thửa số 268 có diện tích 450m2; 01 thửa đất màu là thửa số 269 có diện tích 920m2; 01 thửa đất thổ quả là thửa số 273 có diện tích 360m2 ông Nguyên, bà Hàng đã xây cất nhà ở, công trình phụ và trồng nhiều cây l­ưu niên; năm 1996, ông Nguyên đã đăng ký kê khai và đư­ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 07 thửa đất nêu trên (riêng thửa 271 diện tích 780m2 là đất trồng cây lâu năm như­ng chư­a đư­ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Như­ vậy, có cơ sở xác định tuy nguồn gốc đất là của cha mẹ bà Hàng cho, nhưng bà Hàng đã đồng ý nhập quyền sử dụng các thửa đất nêu trên vào là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định các công trình xây dựng trên đất và toàn bộ diện tích đất nêu trên là tài sản chung vợ chồng ông Nguyên, bà Hàng để chia khi ly hôn là có căn cứ, đúng pháp luật.

 Tuy nhiên, khi chia tài sản chung, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không xác định chính xác công sức của ông Nguyên, bà Hàng trong việc tạo lập khối tài sản chung, chưa xem xét nhu cầu và điều kiện thực tế của mỗi bên về việc sử dụng nhà đất để chia hiện vật cho các đư­ơng sự phần nhà đất tương xứng với công sức, nhu cầu và điều kiện sử dụng nên đã giao căn nhà gắn liền với thửa đất số 273 có diện tích 360m2 và 6 thửa đất (đều đã đ­ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho bà Hàng và chỉ giao cho ông Nguyên đ­ược tạm thời quản lý, sử dụng thửa đất số 271 (ch­ưa đư­ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có lối đi vào mà phải đi qua phần đất của cụ Hành), chỉ buộc bà Hàng thanh toán lại 1/2 giá trị nhà đất tại thửa số 273 cho ông Nguyên, là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của ông Nguyên.

 Mặt khác, trong thực tế căn nhà trên diện tích 360m2 đất có đủ điều kiện để chia, trong khi cả ông Nguyên và bà Hàng đều có yêu cầu về nhà ở và không có chỗ ở khác. Lẽ ra phải phân chia cho mỗi người một phần nhà để ở mới đúng. Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm lại giao toàn bộ nhà nêu trên cho bà Hàng là không đúng không đảm bảo quyền lợi của các đương sự và không phù hợp với thực tế.

Bởi các lẽ trên; căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Hủy phần phân chia tài sản chung tại bản án ly hôn phúc thẩm số 35/HNPT ngày 03-8-2005 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và huỷ phần phân chia tài sản chung tại bản án ly hôn sơ thẩm số 15/HNST ngày 16-5-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại phần phân chia tài sản chung theo đúng quy định của pháp luật. 

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy một phần:

Tòa án các cấp đã không xác định chính xác công sức của các đương sự trong việc tạo lập khối tài sản chung, chưa xem xét nhu cầu và điều kiện thực tế của mỗi bên về việc sử dụng nhà đất để phân chia tài sản cho hợp lý.


254
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 20/2008/DS-GĐT ngày 29/07/2008 về vụ án ly hôn và chia tài sản khi ly hôn

Số hiệu:20/2008/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/07/2008
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về