Quyết định giám đốc thẩm 03/2011/DS-GĐT ngày 23/02/2011 xét xử ông Vũ Bá Ngọc về việc tranh chấp di sản thừa kế

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 03/2011/DS-GĐT NGÀY 23/02/2011 XÉT XỬ ÔNG VŨ BÁ NGỌC VỀ TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ 

Ngày 23-02-2011 , tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về "tranh chấp di sản thừa kế" giữa:

Nguyên đơn: Bà Vũ Kim Dung sinh năm 1945; trú tại nhà số 122 đường Thánh Thiên, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Ông Vũ Bá Ngọc sinh năm 1942; trú tại nhà số 251 Nguyễn Thái Bình, phường 4, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Thị Kim Dung sinh năm 1949 (vợ của ông Ngọc); trú tại nhà số 251 Nguyễn Thái Bình, phường 4, quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Ngô Thị Liên sinh năm 1957;

3. Bà Đoàn Thị Thủy sinh năm 1961;

4 . Ông Nguyễn Quang Minh sinh năm 1951 .

Các ông bà Liên, Thuỷ, Minh cùng trú tại nhà số 110 phố Quang Trung, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

NHẬN THẤY

Cụ Vũ Hạc Toán và cụ Nguyễn Thị Tý có hai người con là ông Vũ Bá Ngọc và bà Vũ Kim Dung. Cụ Tý chết năm 1990, cụ Toán chết năm 1991, đều không để lại di chúc viết. Di sản của hai cụ để lại gồm quyền sử dụng 120,8m2 đất, trên đất có một ngôi nhà trần diện tích 31 m2 và một ngôi nhà 2 tầng tổng diện tích 38,4m2 tại 110 Quang Trung, Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Tài sản của hai cụ do vợ chồng ông Ngọc quản lý.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03-3-1999 và quá trình giải quyết vụ án, bà Vũ Kim Dung đề nghị chia thừa kế khối tài sản trên và xin được chia bằng hiện vật.

Ông Ngọc trình bày:

Nhà và công trình phụ là do ông bỏ tiền xây, khi cha mẹ còn sống đều nói cho ông được sử dựng và sở hữu di sản của các cụ để lại. Ngày 29-7-1998, vợ chồng ông và bà Vũ Kim Dung đã lập biên ban vê việc vợ chồng ông được sở hữu toàn bộ tài sản của cha mẹ để lại nhưng trích chia cho bà Vũ Kim Dung 20.000.000 đồng. Vợ chồng ông đã giao cho bà Vũ Kim Dung 20.000.000 đồng.

Khi bà Vũ Kim Dung khởi kiện chia thừa kế, tại bản án dân sự phúc thẩm số 38/DSPT ngày 03-5-2000 Tòa án dân dân tỉnh Bắc Giang quyết định ông được sở hữu và sử dụng toàn bộ nhà đất của cha mẹ ông để lại; ông trả cho bà Vũ Kim Dung 40.000.000 đồng, được trừ 20.000.000 đồng đã đưa trước. Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực, ông đã thi hành án theo quyết định của Tòa án và bán toàn bộ nhà đất cho vợ chồng bà Thủy ông Minh và bà Liên với tổng số tiền là 700.000.000 đồng, sau đó vào Nam sinh sống. Ông không đồng ý với yêu cầu của bà Vũ Kim Dung.

Ông Ngọc không có đơn phản tố xin chia thừa kế nhà đất tại 122 đường Thánh Thiên đang do bà Vũ Kim Dung quản lý mà tại lời khai ngày 03-5-1999 (BL 16) ông Ngọc chỉ trình bầy nhà đất tại 122 đường Thánh Thiên ông Ngọc và cụ Tý đã mua cho bà Dung. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 28-01-2000 ông Ngọc trình bày không yêu cầu gì đối với căn nhà này.

Bà Thủy, ông Minh trình bày: Sau khi bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định giao cho vợ chồng ông Ngọc được quyền sở hữu nhà đất tại 110 Quang Trung, Trần phú, Bắc Giang, ông bà đã mua 1/2 diện tích nhà đất của ông Ngọc với giá 370.000.000 đồng, việc mua bán có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường Trần Phú, thị xã Bắc Giang ngày 27-7-2000. Ông bà đã thanh toán đủ tiền cho ông Ngọc và sử dụng phần nhà đất mua từ đó đến nay và đã sửa chữa hết 375.000.000 đồng. Ông, bà không đồng ý trả nhà đất đang sử dụng.

Bà Liên trình bày: Bà mua 1/2 diện tích nhà đất của ông Ngọc với giá 372.500.000 đồng, việc mua bán có xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường Trần Phúc thị xã Bắc Giang ngày 27-7-2000. Bà đã thanh toán đủ tiền cho ông Ngọc, đã sử dụng phần nhà đất mua từ đó đến nay và đã sửa chữa hết 200.000.000 đồng. Bà không đồng ý trả nhà đất đang sử dụng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/DSST ngày 28-01-2000, Tòa án nhân dân thị xã Bắc Giang (nay là thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang quyết định:

Công nhận di chúc miệng của hai cụ Toán và cụ Tý về việc cho ông Vũ Bá Ngọc được quyền sở hữu sử dụng nhà đất số 110 phố Quang Trung, phường Trần Phú, thị xã Bắc Giang, là hợp pháp.

Ông Ngọc đựơc sở hữu, sử dụng toàn bộ 3 gian nhà trần bên trong có 1 gian gác và công trình phụ cấp 4 trên lô đất có diện tích 120,8m2 ở số 110 phố Quang Trung, phường Trần Phú, thị xã Bắc Giang. Ngôi nhà này phía Bắc là đường Quang Trung, phiá Nam giáp nhà ông Tân, phía Đông giáp nhà bà Hảo, phía Tây giáp nhà của Ủy ban nhân dân phường Trần Phú cho thuê. Nhưng ông Ngọc phải trích chia cho bà Vũ Kim Dung 40. 000. 000 đồng, được trừ số tiền 20. 000. 000 đồng đã đưa trước.

Bà Vũ Kim Dung được sở hữu số tiền 20. 000. 000 đồng do ông Ngọc trích chia.

Bản án còn quyết định về án phí.

Ngày 10-02-2000, bà Vũ Kim Dung có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng 2/5 giá trị nhà đất của cha mẹ là khoảng 100.000.000 đồng.

Ngày 31-01-2000, ông Ngọc có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý trích trả cho bà Vũ Kim Dung 20.000.000 đồng và đề nghị xem xét phần án phí.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 38/DSPT ngày 03-5-2000, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang sửa án sơ thẩm và quyết định:

Công nhận di chúc miệng của cụ Nguyễn Thị Tý là hợp pháp đối với 1/2 di sản thừa kế.

Xác nhận di sản của cụ Vũ Hạc Toán và cụ Nguyễn Thị Tý còn lại là 181. 200. 000 đồng ở 110 phố Quang Trung, phường Trần Phú, thị xã Bắc Giang.

Ông Vũ Bá Ngọc được sở hữu và sử dụng toàn bộ 3 gian nhà trần trong đó có 1 gian gác là các công trình phụ trên lô đất có diện tích là 120,8m2 ơ do phố Quang Trung, phườmg Trần Phú, thị xã Bắc Giang. Nhà đất này phía Bắc là đường Quang Trung, phía Nam giáp nhà ông Tân, phiá Đông giáp nhà bà Hảo, phiá Tây giáp nhà của Uy ban nhân dân phường Trần Phú cho thuê. Nhưng ông Ngọc có trách nhiệm trả cho bà Vũ Kim Dung 40. 000. 000 đồng được trừ đi số tiền 20.000.000 đồng đã đưa trước. Ông Ngọc phải trich trả tiếp cho bà Dung 20.000.000 đồng.

Bà Vũ Kim Dung được sở hữu số tiền 40. 000. 000 đồng do ông Ngọc trích trả bà Dung đã nhận trước 20. 000.000 đồng còn lại được nhận tiếp 20.000. 000 đồng.

Bản án còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Vũ Kim Dung khiếu nại với nội dung không đồng ý hưởng thừa kế bằng giá trị. Toàn bộ công trình trên đất là của cha mẹ để lại nhưng Tòa án công nhận cho ông Ngọc là không có căn cứ.

Tại quyết định số 102/KN-DS ngày 25-10-2000, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 38/DSPT ngày 03-5-2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 07/DSPT ngày 28-01-2000 của Tòa án nhân dân thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và bản án dân sự phúc thẩm số 38/DSPT ngày 03-5-2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử theo thủ tục sơ thẩm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2006/ST-DS ngày 27-4-2006, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định:

Xác định di sản của cụ Vũ Hạc Toán và cụ Nguyễn Thị Tý để lại gồm 120,8m2 đất, một ngôi nhà trần diện tích 31m2, một ngôi nhà 2 tầng tổng diện tích 38,4m2 tọa lạc tại số 110 Quang Trung, Trần Phú, thành phố Bắc Giang có tổng giá trị 1.909.600.805 đồng.

Giao vợ chồng ông Vũ Bá Ngọc và bà Trương Thị Kim Dung sử dụng 120,8m2 và được sở hữu toàn bộ một ngôi nhà trần diện tích 31m2, một ngôi nhà 2 tầng tổng diện tích 38,4m2, tọa lạc tại số 110 Quang Trung, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tổng giá trị 1.909.600.850 đồng.

Ông Vũ Bá Ngọc và bà Trương Thị Kim Dung còn phải trích trả cho bà Vũ Kim Dung số tiền là 782.936.805 đồng

Bản án còn quyết định về án phí.

Tại quyết định số 612/QĐ-KN-VKS-P5 ngày 30-5-2006, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang( hồ sơ không có quyết định kháng nghị này mà theo bản án phúc thẩm nhận định).

Ngày 05-5-2006 bà Vũ Kim Dung kháng cáo với nội dung: không đồng ý nhận thừa kế bằng giá trị; số tiền 20.000.000 đồng ông Ngọc trả trước khi khởi kiện, bà không đồng ý tính số tiền này tương đương 171.000.000 đồng; đề nghị xem xét về án phí.

Ngày 30-4-2006 ông Vũ Bá Ngọc kháng cáo với nội dung: sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, ông đã thi hành án; nhà và đất đã bán hiện không còn, đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 10/2007/DSPT ngày 17-01-2007, Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội sửa án sơ thẩm và quyết định:

Xác định di sản của cụ Vũ Hạc Toán và cụ Nguyễn Thị Tý để lại gồm 120,8m2 đất, 01 ngôi nhà trần diện tích 31m2, 1 ngôi nhà 2 tầng tổng diện tích 38,4m2 tọa lạc tại số 110 Quang Trung, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Tổng giá trị 1.909.600.805 đồng.

Tính công sức duy trì, bảo quản.... khối di sản thừa kế cho ông Vũ Bá Ngọc và bà Tương Thị Kim Dung bằng 10% của tổng giá trị khối di sản thừa kế là 190.000.000 đồng.

Giá trị còn lại của khối di sản thừa kế là 1.719. 600. 000 đồng được chia đôi cho các hàng thừa kế, mỗi kỷ phần là 859. 800. 000 đồng.

Năm 1999 ông Vũ Bá Ngọc đã thanh toán cho bà Vũ Kim Dung (bà Dung đã nhận) 20.000.000 đồng tức là 9 % tương đương 171.000.000 đồng. Như vậy bà Vũ Kim Dung còn được ông Vũ Bá Ngọc thanh toán 688. 800. 000 đồng .

Chia cho ông Vũ Bá Ngọc và bà Trương Thị Kim Dung sử dụng, sở hữu toàn bộ giá trị di sản thừa kế. Buộc ông Vũ Bá Ngọc và bà Trương Thị Kim Dung phải thanh toán cho bà Vũ Kim Dung 688. 800. 000 đồng.

Tạm giao nhà đất toạ lạc tại số 110 Quang Trung, Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang cho các bà Ngô Thị Liên, Đoàn Thị Thủy và ông Nguyễn Quang Minh quản lý sử dụng. Ông Vũ Bá Ngọc, bà Trương Thị Kim Dung và các bà Ngô Thị Liên và Đoàn Thị Thủy, ông Nguyễn Quang Minh có quyền hoàn tất thủ tục mua bán nhà đất trên theo quy định của pháp luật. Nếu giữa ông Vũ Bá Ngọc, bà Trương Thị Kim Dung và các bà Ngô Thị Liên, Đoàn Thị Thủy, ông Nguyễn Quang Minh có tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đất trên thì các bên có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác để được giải quyết.

Ngày 27-10-2007, ông Vũ Bá Ngọc có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 31/2010/KN-DS ngày 15-01-2010, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 10/2007/DSPT ngày 17-01-2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, huy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 02/2006/DSST ngày 27-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Cụ Vũ Hạc Toán (chết năm 1991) và cụ Nguyễn Thị Tý (chết năm 1990) có hai người con là ông Vũ Bá Ngọc và bà Vũ Kim Dung. Các cụ chết đều không để lại di chúc viết. Theo bà Vũ Kim Dung, di sản của các cụ để lại là căn nhà trần 3 gian, trong đó một gian hai tầng trên diện tích 120,8m2 đất tại số 110 phố Quang Trung, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Còn ông Ngọc cho rằng đất là của cha mẹ để lại, nhà do ông bỏ tiền ra xây dựng vào năm 1978 , mẹ ông đã cho ông nhà đất theo di chúc miệng không có giấy tờ. Ngày 29-7-1998 các ông bà Vũ Kim Dung, Vũ Bá Ngọc và Trương Thị Kim Dung đã lập biên bản thỏa thuận với nội dung: vợ chồng ông Ngọc, bà Trương Thị Kim Dung được sở hữu nhà đất của cha mẹ kể từ ngày 30-7-1998, nhưng ông Ngọc và bà Trương Thị Kim Dung phải trích chia cho bà Vũ Kim Dung 100.000.000 đồng.

Ông Ngọc đã giao cho bà Vũ Kim Dung 20.000.000 đồng, còn lại không giao tiếp, nên ngày 03-3-1999 bà Dung khởi kiện ông Ngọc, xin chia thừa kế di sản của cha mẹ để lại.

Quá trình giải quyết Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành bản án dân sự phúc thẩm số 38/DSPT ngày 03-5-2000 công nhận toàn bộ tài sản trên đất do vợ chồng ông Ngọc xây dựng, cụ Toán và cụ Tý chỉ để lại di sản là 120,8m2 đất trị giá 181.200.000 đồng; công nhận cụ Tý có di chúc miệng cho ông Ngọc tài sản của cụ, di sản của cụ Tý được chia theo di chúc; trích công sức cho ông Ngọc duy trì tài sản 10.600.000 đồng trong phần di sản của cụ Toán; di sản của cụ Toán còn lại được chia theo pháp luật; bà Vũ Kim Dung được chia 40.000.000 đồng, ông Ngọc đã trả 20.000.000 đồng, bà Vũ Kim Dung còn được nhận 20.000.000 đồng; giao toàn bộ nhà đất cho vợ chồng ông Ngọc sở hữu và sử dụng.

Ngày 23-7-2000, ông Ngọc làm "Giấy bán nhà" cho bà Liên và vợ chồng bà Thủy, ông Minh mỗi bên 1/2 nhà đất hợp đồng mua bán có xác nhận của ủy ban nhân dân phường Trần Phú ngày 27-7-2000. Hợp đồng không ghi giá mua bán nhưng theo giấy biên nhận, lời khai của các bên thì ông Ngọc đã nhận của bà Liên 372.500.000 đồng, nhận của bà Thủy 370.000.000 đồng.

Ngày 25-7-2000, ông Ngọc nộp cho cơ quan Thi hành án số tiền 20.000.000 đồng để thi hành cho bà Vũ Kim Dung. Tuy nhiên, bản án phúc thẩm nêu trên đã bị Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị và sau đó Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm để giao xét xử lại sơ thẩm. Như vậy, ông Ngọc bán nhà đất trên cơ sở bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật vì bản án đã giao cho ông được quyền sở hữu nhà đất tranh chấp, nên theo Điều 138 Bộ luật dân sự năm 2005 thì giao dịch mua bán nhà đất giữa ông Ngọc với bà Liên, vợ chồng bà Thủy là ngay tình, cần được xem xét công nhận. Nhà đất là di sản thừa kế không còn, di sản đã được chuyển thành tiền tại thời điểm ông Ngọc bán, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm lại định giá tài sản tranh chấp để chia thừa kế là không đảm bảo quyền lợi cửa ông Ngọc.

Khi bà Vũ Kim Dung và ông Ngọc thỏa thuận năm 1998, bà Vũ Kim Dung chỉ xin nhận một phần tiền trong khối di sản là 100.000.000 đồng; sau khi xét xử sơ thẩm lần 1 (bà Vũ Kim Dung được nhận 40.000.000 đồng), bà Vũ Kim Dung kháng cáo cũng chỉ xin nhận 100.000.000 đồng bằng 2/5 giá trị khối di sản đây là ý chí của bà Vũ Kim Dưng khi xin chia thừa kế. Lẽ ra, khi giải quyết lại vụ án Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm phải xem xét thỏa thuận này (vì không trái pháp luật) để xác định tỉ lệ phần trăm số tiền bà Dung xin hưởng tương ứng với giá trị nhà đất lúc thỏa thuận để tính toán buộc ông Ngọc trích trả bà Dung trong số tiền đã bán nhà năm 2000 mới đảm bảo quyền lợi của đôi bên. Do đó, cần phải hủy cả bản án sơ thẩm phúc thẩm để giao xét xử sơ thẩm lại. Vụ án này không có nhân tố nước ngoài, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, nên cần giao hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và khoan 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 10/2007/DSPT ngày 17-01-2007 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án dân sự sơ thẩm số 02/2006/DSST ngày 27-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về vụ án "Tranh chấp di sản thừa kế" giữa nguyên đơn là bà Vũ Kim Dung với bị đơn là ông Vũ Bá Ngọc; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông, bà Trương Thị Kim Dung, Ngô Thị Liên, Đoàn Thị Thủy và Nguyễn Quang Minh.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng qui định của pháp luật.


143
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 03/2011/DS-GĐT ngày 23/02/2011 xét xử ông Vũ Bá Ngọc về việc tranh chấp di sản thừa kế

Số hiệu:03/2011/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/02/2011
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về