Quyết định giám đốc thẩm 02/2004/HĐTP-KT ngày 26/02/2004 về tranh chấp thanh toán nợ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 02/2004/HĐTP-KT NGÀY 26/02/2004 VỀ TRANH CHẤP THANH TOÁN NỢ

Tại phiên toà ngày 26-02-2004, xét xử giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp thanh toán nợ giữa:

Nguyên đơnCông ty trách nhiệm hữu hạn Vân Hoà (sau đây gọi tắt là Công ty Vân Hoà); có trụ sở: Nhà số 28 Hạ Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

Bị đơnCông ty trách nhiệm hữu hạn Ngọc Phương (sau đây gọi tắt là Công ty Ngọc Phương); có trụ sở: Nhà số 231 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

NHẬN THẤY

Công ty Ngọc Phương là khách hàng, nhiều lần vay vốn của Công ty Vân Hoà từ năm 1997 đến đầu năm 1999. Tất cả các lần vay đều bằng tín chấp. Hai bên không kiểm tra, đối chiếu công nợ nên nhiều khoản nợ vay còn chưa thống nhất.

Trong hai ngày 29 và 30-03-1999, Công ty Ngọc Phương ký hai “Đơn xin vay kiêm khế ước nhận, trả nợ” (mẫu in của Công ty Vân Hoà) vay tổng số tiền 850.000.000 đồng, để bổ sung vốn sản xuất kinh doanh với thời hạn vay là 5 tháng, lãi suất vay l,8%/tháng và quá hạn 2,7%/tháng; tài sản bảo đảm tiền vay gồm: thế chấp phần còn lại giá trị nhà xưởng và quyền sử dụng đất tại 231 Trần Nguyên Hãn, Hải Phòng trừ phần đã thế chấp tại VPBank và quỹ tín dụng nhân dân Thành Tô; cầm cố giữ toàn bộ giấy tờ giá trị dây chuyền thiết bị máy may công nghiệp và một số thiết bị văn phòng khác của Công ty Ngọc Phương tại số 231 Trần Nguyên Hãn, thành phố Hải Phòng.

Giám đốc Công ty Ngọc Phương và kế toán trưởng đã ký nhận tiền của Vân Hoà (các phiếu chi số 03 ngày 29-03-1999 ghi 600.000.000 đồng và số 04 ngày 30-3-1999 ghi 250.000.000 đồng).

Quá hạn, Công ty Ngọc Phương mới trả được cho Công ty Vân Hoà 120.000.000 đồng và 5 đợt lãi bằng 82.295.000 đồng, trong đó 27.000.000 đồng trả qua Công an quận Hồng Bàng (Công ty Vân Hoà đề nghị thu hồi nợ giúp). Ngày 12-04-2000, các bên xác định tính đến ngày 27-12-1999 Công ty Ngọc Phương còn nợ gốc 730.000.000 đồng và cam kết trả nợ đến hết ngày 31-12-2000, đã được Công ty Vân Hoà chấp thuận.

Ngày 05-06-2000, Công ty Vân Hoà khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng yêu cầu Công ty Ngọc Phương phải thanh toán các khoản nợ theo hai khế ước ký các ngày 29 và 30-3- 1999.

Theo Công ty Vân Hoà, khoản vay 850.000.000 đồng độc lập với các khoản cho vay khác từ 1997 mà Công ty Ngọc Phương chưa trả. Phía công ty Ngọc Phương lại cho rằng tổng dư nợ trước còn lại 7 khoản vay thành tiền 771.800.000 đồng cộng tiền 1ãi đến ngày 29-03-1999 là 62.201.000 đồng; Công ty Vân Hoà tự ý thêm vào 15.999.000 đồng để tròn 850.000.000 đồng và hợp thức hoá lập hồ sơ vay kiêm khế ước nhận trả nợ mới có tài sản bảo đảm.

Ngày 3l-05-2002, Công an thành phố Hải Phòng có công văn số 885/CV kết luận: Việc vay nợ không có dấu hiệu hình sự và khoản trên 850.000.000 đồng mà Công ty Ngọc Phương vay của Công ty Vân Hoà 1à khoản vay độc lập với các khoản vay trước đó.

Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 11/KTST ngày 25-09-2002, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận định: Các khế ước ngày 29 và 30-03-1999 là hợp đồng kinh tế hợp pháp. Tuy nhiên, vô hiệu phần cầm cố tài sản do không có công chứng và nhất trí của các thành viên Công ty Ngọc Phương (bên vay tiền). Công ty Ngọc Phương đã ký nhận đủ tiền vay 850.000.000 đồng, có nghĩa vụ thanh toán trả nợ Công ty Vân Hoà. Các chứng cứ cũng cho thấy số tiền vay không phải là cộng dồn các khoản Công ty Ngọc Phương nợ trước đó. Bản án quyết định:

1. Công ty Ngọc Phương phải thanh toán trả cho Công ty Vân Hoà số tiền nợ vay theo hai hợp đồng kinh tế ngày 29-03-1999, và ngày 30-03-1999 là: 1.386.599.000 đồng (trong đó nợ gốc: 730.000.000 đồng và nợ 1ãi: 656.599.000 đồng). Số tiền này là khoản vay độc lập với các khoản vay khác.

2. Bác yêu cầu của Công ty Vân Hoà đòi phát mại 167 máy may công nghiệp và một số thiết bị văn phòng của Công ty Ngọc Phương.

3. Phần còn lại của giá trị nhà xưởng và giá trị quyền sử dụng đất của Công ty Ngọc Phương tại số 231 Trần Nguyên Hãn, thành phố Hải Phòng được bảo đảm khoản tiền vay tại Điều 1 quyết định này và được thực hiện theo Quyết định số 39 ngày 07-12-1999 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 02-10-2002, Công ty Ngọc Phương có đơn đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ quyết định của Bản án kinh tế sơ thẩm.

Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 54/PTKT ngày 08-04-2003, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã giữ nguyên các quyết định của Bản án kinh tế sơ thẩm nêu trên.

Sau khi xét xử phúc thẩm, Công ty Ngọc Phương có đơn yêu cầu giám đốc thẩm Bản án kinh tế phúc thẩm này.

Tại Quyết định kháng nghị số 08/KN-AKT ngày 30-10-2003, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận định:

- Công văn số 885/CV ngày 31-05-2002 của Công an thành phố Hải Phòng kết luận: khoản vay 850.000.000 đồng của Công ty Ngọc Phương độc lập với các khoản vay khác 1à thiếu căn cứ, khách quan, với các 1ý do: chưa làm rõ việc Công ty Vân Hoà khai có chuyển cho chị Ngọc (Phó Giám đốc Công ty Ngọc Phương) số tiền 200.000.000 đồng trong số 600.000.000 đồng của phiếu chi số 03 ngày 29-03-1999 mà Công ty Ngọc Phương không thừa nhận; nhận định không có bản ''Thuyết minh các khoản gốc, lãi của Công ty Ngọc Phương vay tại Công ty Vân Hoà từ ngày vay đến ngày 29-03-1999'' là chưa đúng với thực tế; ngày 12-04-2000 đương sự có chốt nợ với nhau xác định tổng số nợ mà Công ty Ngọc Phương còn phải trả.

- Toà án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa xem xét đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ, bao gồm: các thông báo đòi nợ của Công ty Vân Hoà (số 03,09, 01 và 08 các ngày 09-09, 13- 10 năm 1999; 08-01 và 29-01 năm 2000); bản thuyết minh của Công ty Vân Hoà ngày 05-01-2000 về số nợ của Công ty Ngọc Phương đến ngày 29-03- 1999; bản khế ước nhận nợ ghi năm 1997, nhưng tại sao lại ghi nhận các khoản nợ phát sinh sau đó (gồm 7 khoản vay từ ngày 07-11-1998 đến ngày 13-02-1999); biên bản các bên làm việc tại Công an quận Hồng Bàng ngày 12-04-2000 và biên bản số 155291/BBLV ngày 17-03-2000 của Chi cục quản lý thị trường Hải Phòng. Việc xem xét đầy đủ các chứng cứ này là căn cứ để kết luận về toàn bộ số nợ đọng của Công ty Ngọc Phương với Công ty Vân Hoà.

Từ những nhận định trên đây, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Kháng nghị Bản án kinh tế phúc thẩm số 54/PTKT ngày 08-04-2003 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử vụ án theo trình tự giám đốc thẩm theo hướng huỷ các Bản án sơ thẩm, phúc thẩm; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xác minh lại những tình tiết nêu trên và xét xử lại theo quy định chung của pháp luật.

XÉT THẤY

Công ty Vân Hoà khởi kiện đòi Công ty Ngọc Phương 850 triệu đồng theo hai khế ước vay các ngày 29 và 30-03 năm 1999. Công ty Ngọc Phương xác nhận có ký hai khế ước này nhưng cho rằng đây 1à khoản tiền vay cộng dồn của các khoản nợ trước.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì trước khi có hai khế ước vay tiền ngày 29 và 30-03 năm 1999, Công ty Ngọc Phương đã nhiều lần vay tiền của Công ty Vân Hoà từ tháng 07-1997. Theo xác nhận của ông Trần Văn Huy, Công an quận Hồng Bàng (người thụ 1ý vụ án hình sự) thì ngày 29-01-2000, Công ty Vân Hoà có nộp cho Công an bản thuyết minh đề ngày 05-01-2000 có nội dung xác định các khoản nợ của Công ty Ngọc Phương tính đến ngày 29-03-1999 trong đó nợ gốc và lãi là 834.000.000 đồng, sau đó lại ghi tiếp ngày 29-03-1999 bà Lẻo nhận số tiền 15.999.000 đồng. Tính đến ngày 29-03-1999 tổng số nợ vay là 834.001.000 đồng cộng (+) 15.999.000 đồng = 850.000.000 đồng. Sau đó Công ty Vân Hoà đã nhiều 1ần gửi thông báo đòi nợ Công ty Ngọc Phương như giấy số 09TB/VH ngày 13-10-1999 có nội dung tính đến ngày 13-10-1999 Công ty Ngọc Phương còn nợ số tiền gốc 1à 850.000.000 đồng; giấy số 01/2000 TB ngày 08-01-2000 có nội dung tính đến ngày 31-12-1999 Công ty Ngọc Phương còn nợ Công ty Vân Hoà tiền gốc là 755.785.000 đồng, tiền lãi 2.720.826 đồng, tổng cộng là 758.505.826 đồng và giấy số 08/2000 TB ngày 29-01-2000 có nội dung tính đến ngày 31-01-2000 Công ty Ngọc Phương còn nợ Công ty Vân Hoà là 779.592.000 đồng.

Việc xác minh làm rõ các tài liệu trên đây để có cơ sở kết luận có hay không có việc chốt nợ vào ngày 29-03- 1999 theo bản thuyết minh ngày 05-01-2000 giữa Công ty Vân Hoà và Công ty Ngọc Phương là hết sức cần thiết, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng đắn. Tuy nhiên, Toà án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ vào kết luận của Công an quận Hồng Bàng để quyết định trong Bản án số tiền nợ theo hai khế ước vay tiền ngày 29 và 30-03 năm 1999 với số tiền 850 triệu đồng là khoản nợ độc 1ập với các khoản nợ khác là chưa có đầy đủ căn cứ và không phù hợp với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu làm rõ của bị đơn về nguồn gốc số tiền mà nguyên đơn khởi kiện đòi nợ đối với bị đơn.

Về việc nhận tiền vay: Công ty Ngọc Phương khai do khế ước chỉ là hình thức để chốt nợ nên có ký phiếu chi nhưng không nhận tiền. Công ty Vân Hoà trình bày ngoài việc bà Lẻo, Giám đốc Công ty Ngọc Phương nhận tiền trực tiếp, Công ty Vân Hoà còn chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh cho chị Ngọc, Phó Giám đốc Công ty Ngọc Phương 200 triệu đồng (trong số 600 triệu tại phiếu chi số 03 ngày 29-03-1999) nhưng việc có chuyển tiền hay không, chuyển bằng hình thức nào và chị Ngọc có nhận không cũng chưa được xác minh làm rõ.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận Kháng nghị số 08/KN-AKT ngày 30-10-2003 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; huỷ Bản án kinh tế phúc thẩm số 54/PTKT ngày 08-04-2003 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung

Lý do chấp nhận Kháng nghị, huỷ Bản án phúc thẩm:

- Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ vào kết luận của Công an quận Hồng Bàng để quyết định trong Bản án số tiền nợ theo hai kế ước vay tiền là khoản tiền nợ độc lập với các khoản nợ khác là chưa có đầy đủ căn cứ và không phù hợp với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu làm rõ của bị đơn về nguồn gốc số tiền mà nguyên đơn khởi kiện đòi nợ đối với bị đơn.

Với nội dung: Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm cả về thủ tục và nội dung vì: Xử vắng mặt đại diện của bên B và đại diện của Công ty cổ phần ô tô Thăng Long; ông Trần Văn Sơn không phải là chủ nhiệm của Hợp tác xã Hồng Quang nên không có quyền khởi kiện. Do đó, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 4 Điều 70 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế để đình chỉ vụ án.

Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 23/KTPT ngày 18-02-2003 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định bác đơn kháng cáo của Công ty TNHH Tân Hồng và Công ty cổ phần ô tô Thăng Long, giữ nguyên Bản án kinh tế sơ thẩm nêu trên.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 01-04-2003 Công ty TNHH Tân Hồng có đơn khiếu nại số 51/CV đề nghị Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xem xét lại vụ án.

Tại Kháng nghị số 05/KN-AKT ngày 05-09-2003 Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án kinh tế phúc thẩm số 23/KTPT ngày 18-02-2003 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ Bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo hướng xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu. Với lý do: Hợp đồng liên kết giữa hai bên chưa được các cơ quan có thẩm quyền đồng ý và cho phép hoạt động, hai bên cũng không hình thành cơ quan quản lý độc lập cho tổ chức liên kết kinh tế như không có Hội đồng quản trị, không có hình thức hoạt động kinh tế cụ thể là vi phạm Điều 5, Điều 6, Điều 7, Quyết định số 38/HĐBT ngày 10-04-1989 về liên kết kinh tế trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ; thực chất của quan hệ hợp đồng giữa Hợp tác xã công nghiệp Hồng Quang với Công ty TNHH Tân Hồng là quan hệ cho thuê tài sản gắn liền với đất. Trước khi cho thuê tài sản gắn liền với đất, Hợp tác xã công nghiệp Hồng Quang đã không làm đầy đủ thủ tục để trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm Luật Đất đai 1998Nghị định số 17/NĐ-CP của Chính phủ, sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 79/NĐ-CP của Chính phủ.

XÉT THẤY

Tuy Hợp đồng số 01/HT- HQ ngày 29-08-1996 ghi là “Hợp đồng liên kết sản xuất”, nhưng nội dung của phụ lục hợp đồng số 01 và phụ lục hợp đồng số 02 đã thể hiện bản chất của hợp đồng là thuê nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất, chứ không phải là liên kết thành lập đơn vị kinh tế mới theo Quy định về liên kết kinh tế (ban hành kèm theo Quyết định số 38/HĐBT ngày 10-04-1989 của Hội đồng Bộ trưởng).

Hợp tác xã công nghiệp Hồng Quang (Bên A) mà tiền thân là Hợp tác xã nhựa cao cấp Hữu Nghị, được Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 395 ngày 09-12-1975. Theo giấy phép này, Hợp tác xã được sử dụng 7.760m2 đất. Ngày 06-04-1977, Hợp tác xã được cấp giấy phép xây dựng nhà sản xuất hai tầng mái bằng diện tích xây dựng là 421,20m2. Ngày 13-07-1977 Hợp tác xã được Sở xây dựng cấp giấy phép xây dựng số 358 về việc cho phép Hợp tác xã xây dựng thêm 518m2 nhà xưởng và 428m2 nhà kho. Như vậy, nhà xưởng mà bên A được phép xây dựng bằng vốn của mình trên đất được sử dụng hợp pháp, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên A. Do đó, bên A có quyền định đoạt tài sản này theo quy định của pháp luật.

Từ thời điểm ký hợp đồng kinh tế số 01 ngày 29-08-1996 đến thời điểm ký phụ lục hợp đồng số 02 ngày 10-01-1999 Luật Đất đai 1993 đang có hiệu lực. Luật này không có quy định về thủ tục thuê đất, thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đối với các tổ chức, cá nhân Việt Nam. Ngày 02-12-1998, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993, trong đó, có bổ sung Điều 78c, Điều 78đ. Tại khoản 2 Điều 78c quy định: “Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất có quyền: ... Cho thuê quyền sử dụng đất gắn liền với công trình kiến trúc, với kết cấu hạ tầng đã được xây dựng trên đất đó”. Tại Điều 78đ quy định: “Việc thực hiện các quyền của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được quy định tại các Điều 78a, 78b, 78c và 78d của luật này phải được làm thủ tục tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Ngày 29-03-1999, Chính phủ căn cứ Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998, đã ban hành Nghị định số 17/1999/NĐ- CP quy định về thủ tục cho thuê; cho thuê lại đất đối với tổ chức (Điều 19, 20, 21) là phải có hợp đồng thuê đất... Những quy định này ban hành và có hiệu lực sau khi hợp đồng và các phụ lục hợp đồng đã được ký kết.

Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và Nghị định số 17/1999/NĐ ngày 29-03-1999 của Chính phủ không quy định đối với những hợp đồng cho thuê từ trước khi Luật và nghị định nêu trên có hiệu lực mà vẫn còn thời hạn thực hiện khi Luật và nghị định nêu trên có hiệu lực thì phải làm thủ tục lại theo quy định hiện hành.

Do vậy, việc bên A ký hợp đồng cho bên B thuê “1350m2 nhà xưởng hiện có trên tổng diện tích đất được sử dụng là 3100m2” là phù hợp với quy định tại Điều 476, 477 Bộ luật Dân sự, không vi phạm Luật Đất đai năm 1998 và Nghị định số 17/1999/NĐ- CP của Chính phủ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên B đã tự ý cho bên thứ ba thuê lại nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất mà không có sự đồng ý của bên A là vi phạm hợp đồng. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chỉ xử chấp nhận yêu cầu của bên A là huỷ hợp đồng, buộc bên B phải trả lại nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất và thanh toán tiền thuê còn thiếu cho bên A là đúng pháp luật.

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 1 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,

QUYẾT ĐỊNH

Bác Kháng nghị số 05/KN- AKT ngày 05-09-2003 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và giữ nguyên Bản án kinh tế phúc thẩm số 23/KTPT ngày 18-02-2003 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Lý do bác Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao:

- Nhà xưởng mà bên A xây dựng bằng vốn của mình trên đất được sử dụng hợp pháp là tài sản hợp pháp của bên A.

- Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chỉ xử chấp nhận yêu cầu của bên A là huỷ hợp đồng, bên B phải trả lại nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất và thanh toán tiền thuê còn thiếu cho bên A là đúng pháp luật.


204
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về