Quyết định giám đốc thẩm 01/2007/DS-GĐT ngày 11/01/2007 về vụ án ly hôn và chia tài sản khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 01/2007/DS-GĐT NGÀY 11/01/2007 VỀ VỤ ÁN LY HÔN VÀ CHIA TÀI SẢN SAU KHI LY HÔN

Ngày 11 tháng 01 năm 2007, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về việc ly hôn và chia tài sản khi ly hôn. Các đương sự trong vụ án được xác định theo bản án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm gồm có:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tường Minh sinh năm 1969; trú tại: nhà số 150 đường Giáp Bát, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tín sinh năm 1959; trú tại: nhà số 150 đường Giáp Bát, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.    Bà Tống Thị Nhài sinh năm 1929; trú tại: xóm 8 Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định;

2.    Anh Nguyễn Đức Long sinh năm 1953; trú tại: nhà số 66A Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội;

3.    Chị Nguyễn Thị Giang; trú tại: Bùi Chu, xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định;

4.    Chị Nguyễn Thị Hương; trú tại: xóm 4 Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định;

5.    Anh Nguyễn Long Vân; trú tại: nhà số 11 Phan Đình Phùng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định;

6.    Anh Nguyễn Ngọc Sơn; trú tại: xóm 8 Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định;

7.    Chị Nguyễn Thị Thanh; trú tại: xóm 9 Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định;

8.    Anh Nguyễn Văn Đức, cư trú tại Công hòa liên bang Đức;

9.    Anh Nguyễn Hồng Thủy, cư trú tại Cộng hòa liên bang Đức;

10. Anh Nguyễn Ngọc Tiến, cư trú tại Cộng hòa liên bang Đức;

Bà Nhài cùng các con là anh em ruột của anh Tín ủy quyền cho anh Nguyễn Đức Long;

11. Chị Nguyễn Thị Kim Cúc; trú tại: nhà số 54/2B Nguyễn Thông, phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh (chị Cúc ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Hòa).

NHẬN THẤY

Tại đơn xin ly hôn ngày 30-3-2004 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Tường Minh trình bày:

- Chị và anh Nguyễn Văn Tín tự nguyện kết hôn và đăng ký tại UBND phường Tân Mai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội vào ngày 19-01-1993. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn, do chị đi mổ tim về, anh Tín đối xử với chị không như trước, không ai quan tâm đến ai. Vợ chồng đã sống ly thân nên chị xin được ly hôn.

- Vợ chồng không có con chung.

- Về tài sản chung, vợ chồng tạo lập được: 02 xe môtô, trong đó chị đang sử dụng, quản lý 01 xe Best, anh Tín sử dụng 01 xe DreamII (02 xe đều đã mua từ lâu), 01 tivi Samsung, 01 máy giặt, 02 bộ bàn ghế, 01 dàn máy nghe nhạc, đồ dùng sinh hoạt gia đình (những tài sản này, vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu tòa án giải quyết).

Riêng căn nhà 3 tầng trên diện tích đất 38,7m2 tại số 150 đường Giáp Bát do anh Tín mua trước khi cưới, khi mua là nhà cấp 4; năm 1994, vợ chồng chị đã xây thành nhà 3 tầng như hiện nay. Khi xây dựng có vay của anh Nguyễn Đức Long (anh trai anh Tín) 2.700USD đến nay chưa trả. Năm 1998, anh Tín kê khai làm sổ đỏ và năm 2001, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở do anh Tín và chị cùng đứng tên. Việc anh Tín và gia đình anh cho rằng ngôi nhà đó là của bố mẹ anh Tín là không đúng. Chị đề nghị Tòa án chia đôi để chị có chỗ ở.

Anh Nguyễn Văn Tín trình bày: nhất trí với chị Minh về quan hệ hôn nhân, con chung và việc phân chia những tài sản là động sản. Riêng căn nhà ở số 150 đường Giáp Bát là nhà của bố mẹ anh mua năm 1987, nhưng vì anh có hộ khẩu ở Hà Nội nên bố mẹ anh để anh đứng tên. Năm 1994 có xây dựng thành nhà 3 tầng, tiền xây nhà của bố mẹ anh và anh em anh đóng góp. Anh và chị Minh không có tiền mà chỉ có công sức. Anh Long có đưa 2.700USD khi xây nhà. Chị Minh yêu cầu chia nhà anh không đồng ý. Anh thừa nhận năm 1998, anh và chị Minh kê khai làm giấy tờ sở hữu ngôi nhà trên và đã được cấp giấy chứng nhận do anh đang quản lý. Anh không chấp nhận lời khai của chị Minh về việc chị Minh vay của chị Cúc 3.000USD vì anh không biết, chị Minh cũng không nói với anh. Khi chị Minh mổ tim ở Sài Gòn anh đã mang đủ tiền vào, không phải vay ai.

Anh Nguyễn Đức Long trình bày: anh được mẹ anh là bà Tống Thị Nhài cùng các anh chị em trong gia đình ủy quyền giải quyết tranh chấp về ngôi nhà số 150 đường Giáp Bát. Thực tế căn nhà số 150 đường Giáp Bát do bố mẹ anh mua năm 1987 của ông Điều, bà Nhạn, nhưng do bố mẹ anh ở quê nên để anh Tín đứng tên mua bán. Năm 1994, gia đình anh đã xây dựng nhà 3 tầng như hiện nay. Năm 1993, anh Tín và chị Minh kết hôn, bố mẹ anh đã cho vợ chồng anh Tín ở đó. Anh Tín, chị Minh đi làm với mức lương công nhân không có khả năng xây dựng nhà. Anh có đưa cho anh Tín 2.700USD để mua vật liệu xây dựng, sau này mẹ anh đã trả cho anh, còn anh Tín, chị Minh chưa trả nợ cho anh bao giờ. Khi anh Tín, chị Minh kê khai để được cấp sổ đỏ không nói với mẹ anh và anh cũng không biết cho đến khi anh Tín, chị Minh có đơn ly hôn, gia đình anh mới biết nên không còn thời gian khiếu nại. Anh đề nghị Tòa án xem xét, gia đình anh không đồng ý chia nhà cho chị Minh.

Chị Nguyễn Thị Kim Cúc trình bày: Năm 2001 chị cho chị Minh vay 3000 USD để chữa bệnh tại Sài Gòn và chị Minh đã trả được 1000USD, còn nợ 2000 USD chưa trả. Nay anh Tín, chị Minh ly hôn, chị đề nghị Tòa án buộc anh Tín, chị Minh trả cho chị 2000USD.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 28/2005/LHST ngày 25 + 28-3-2005, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Căn cứ Điều 27, 29, 89, 90, 95 Luật hôn nhân và gia đình

Căn cứ Điều 27, 28, 131, 245 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị định 70/CP ngày 03-10-2001 và Nghị quyết 02 ngày 23-12-2000 Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng Luật hôn nhân gia đình. Nghị định 70/CP ngày 12-6-1997 quy định lệ phí.

“1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tường Minh và anh Nguyễn Văn Tín.

2. Về con chung: Không có.

Tài sản sinh hoạt trong gia đình hai bên không yêu cầu giải quyết.

3. Về nhà ở: Xác nhận ngôi nhà 150 Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội diện tích 38,7m2 đất xây 3 tầng tại thửa số 55, bản đồ 5.H.3.24 mang tên anh Nguyễn Văn Tín và chị Nguyễn Thị Tường Minh sở hữu là tài sản chung vợ chồng anh Tín, chị Minh có trị giá 1.817.092.000 đồng.

Phân chia cụ thể: Anh Nguyễn Văn Tín được sở hữu tầng 1 có diện tích 38,7m2 trị giá 1.244.247.333 đồng và toàn bộ tầng 3 có diện tích 30,2m2 cùng ban công trị giá 199.347.333 đồng. Nhưng anh Tín phải trừ lối đi cho chi Minh rộng 1,2m bên tay trái từ cửa nhìn vào dài đến chân cầu thang từ tường tay trái kéo ra để chị Minh đi lên tầng 2 trị giá 115.743.934 đồng.

Anh Tín phải chịu trách nhiệm thanh toán nợ cho bà Nhài do anh Long đại diện là 43.200.000 đồng. Như vậy, phần anh Tín được chia:

1.413.594.666đ - 115.743.934đ - 43.200.000 = 1.254.654.732đ.

Phía chị Minh được chia toàn bộ tầng 2 có diện tích 30,2m2 và 8,2m2  ban công trị giá 373.497.334 đồng và diện tích lối đi rộng 1,2m dài đến chân cầu thang phía tay trái từ cửa nhìn vào tính từ chân tường kéo sang tay phải có trị giá 115.743.934 đồng. Cộng hai khoản là 489.241.268 đồng.

Không ai phải thanh toán cho nhau.

Về khoản nợ chị Cúc, chị Minh có trách nhiệm trả nợ cho chị Nguyễn Thị Kim Cúc do chị Hòa đại diện số tiền 2000USD »31.700.000 đồng.

Bác các yêu cầu khác của đương sự”.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 06-4-2005, chị Nguyễn Thị Tường Minh kháng cáo về việc phân chia nhà ở.

Ngày 08-4-2005, anh Nguyễn Văn Tín kháng cào về việc phân chia nhà ở.

Ngày 11-4-2005, anh Nguyễn Đức Long kháng cáo về việc phân chia nhà ở.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 184/2005/DSPT ngày 09-9-2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định:

Áp dụng Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự: Sửa bản án sơ thẩm: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bên đương sự.

Áp dụng Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình:

- Xác nhận ngôi nhà số 150 đường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội diện tích 38,7m2 đất xây nhà 3 tầng tại thửa đất số 55 bản đổ 5.H.3.24 mang tên anh Nguyễn Văn Tín và chị Nguyễn Thị Tường Minh sở hữu là tài sản chung vợ chồng anh Tín, chị Minh có trị giá 1.817.092.000 đồng.

- Tổng giá trị ngôi nhà 1.817.092.000 đồng trừ số tiền vợ chồng vay anh Long 43.000.000 đồng còn 1.774.092.000 đồng.

- Chia số tiền 1.774.092.000 đồng cho anh Tín được hưởng 974.092.000 đồng, chị Minh được hưởng 800.000.000 đồng.

- Anh Nguyễn Văn Tín được nhận toàn bộ nhà 150 Giáp Bát, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội nhưng anh Tín phải thanh toán cho chị Nguyễn Thị Tường Minh 800.000.000 đồng và thanh toán tiền vay cho anh Long 43.000.000 đồng. Sau khi thực hiện xong các khoản thanh toán cho chị Minh và anh Long, anh Tín mới được quyền làm thủ tục chuyển quyền sở hữu ngôi nhà theo quy định của pháp luật.

- Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật”.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Nguyễn Văn Tín, anh Nguyễn Đức Long và bà Tống Thị Nhài có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 144/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 24-11-2006, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên với nhận định:

- Tại các bản khai và đơn của bà Tống Thị Nhài (mẹ đẻ anh Tín, anh Long) gửi Tòa án thành phố Hà Nội bà đều khẳng định: Năm 1987 bà cùng chồng là ông Nguyễn Văn Tý có mua của vợ chồng ông Nguyễn Duy Điều và bà Phạm Thị Nhạn 1 căn nhà cấp 4 lợp giấy dầu trên diện tích đất 40mở làng Tám - Giáp Bát (nay là số 150 đường Giáp Bát). Việc bà để anh Tín và anh Hải là con rể đứng tên mua nhà, đất là do các anh có hộ khẩu Hà Nội. Sau đó vợ chồng bà đã làm nhà mái bằng 1 tầng để ở, đến năm 1994 vợ chồng bà đã bỏ tiền ra để sửa tầng 1 và làm thêm tầng 2 + 3 (BL17,35). Điều này phù hợp với lời khai của người bán nhà là bà Phạm Thị Nhạn, tại BL35 và BL105 bà Nhạn xác nhận: Năm 1987 bà có chuyển nhượng nhà đất thổ cư có diện tích 38,7m2 hiện nay là 150 đường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Tý và bà Tống Thị Nhài, ông Tý, bà Nhài đã trực tiếp trả tiền cho bà và đã đến làm nhà, điều đó cũng phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Văn Quỳnh ở số nhà 146 đường Giáp Bát xác nhận ông là người đã giới thiệu để cụ Tý và cụ Nhài mua nhà, đất của ông Điều, bà Nhạn (BL34). Chị Minh cũng thừa nhận: Tiền mua nhà, đất 150 Giáp Bát chị không biết là tiền của ai vì mua trước khi chị lấy anh Tín (BL75).

- Về khoản tiền sửa tầng 1 và xây thêm tầng 2 + 3 của ngôi nhà, anh Tín, bà Nhài và anh Long cho rằng tiền là do bà Nhài đưa cho anh Tín 1.000USD và bà Nhài bảo anh Long đưa cho anh Tín 2.700USD. Chị Minh cho rằng kinh phí làm nhà là tiền của vợ chồng chị và có vay của anh Long. Nhưng lời khai của chị Minh không thống nhất, có lời khai vay của anh Long 2.000USD có lúc lại khai vay 2.700USD, anh Long không thừa nhận có việc vay đó. Có lúc chị khai chị bỏ ra 1,3 cây vàng (là tài sản bố mẹ chị cho khi chị đi lấy chồng), có lúc lại khai bỏ ra 1 cây vàng (BL21, 74, 123). Như vậy lời khai của chị Minh không có cơ sở.

Xét thực tế tại thời điểm năm 1987 khi đó anh Tín mới đi làm công nhân không có khả năng về tài chính để mua nhà, đất đến năm 1993 mới kết hôn với chị Minh. Như vậy, có cơ sở xác định nhà, đất tại 150 đường Giáp Bát là do vợ chồng bà Nhài mua của bà Nhạn, chưa chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho vợ chồng anh Tín, chị Minh.

Nếu xác định nhà, đất là tài sản của anh Tín có trước hôn nhân thì: Theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước kết hôn chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. Theo khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03-10-2001 quy định: Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản, có chữ ký của vợ hoặc chồng. Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.

Như vậy, trong trường hợp nhà, đất là tài sản riêng của anh Tín có trước hôn nhân thì giữa anh Tín và chị Minh không có văn bản thỏa thuận việc nhập tài sản riêng của anh Tín vào tài sản chung của vợ chồng.

Trong trường hợp nhà, đất 150 Giáp Bát là tài sản chung vợ chồng anh Tín chị Minh, Tòa án cấp sơ thẩm chia theo hiện vật trong khi diện tích nhà, đất hẹp sẽ gây bất tiện cho cả hai người khi đã ly hôn. Tòa án cấp phúc thẩm chia theo giá trị là đúng. Tuy nhiên khi chia cần xem xét công sức đóng góp của mỗi bên vào khối tài sản đó, cụ thể: Tại biên bản định giá ngày 18-11-2004, tổng giá trị nhà, đất là 1.817.092.000 đồng, trong đó: Giá trị xây dựng là 75.592.000 đồng; giá trị quyền sử dụng đất là 1.741.500.000 đồng (95,84%) đây là giá trị tài sản của anh Tín có trước hôn nhân (chưa kể giá trị tầng 1 trước khi cải tạo). Nhưng khi chia Tòa án đã chia cho chị Minh gần 1/2 giá trị nhà, đất (45.1%), trong khi giá trị tài sản do anh Tín tạo dựng trước hôn nhân chiếm 95,84% giá trị tài sản đem chia là chưa đảm bảo quyền lợi cho các bên theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm: Hủy bản án sơ thẩm số 28/LHST ngày 25 + 28-3-2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và bản án dân sự phúc thẩm trên, giao hồ sơ cho Tòa án địa phương xét xử sơ thẩm lại theo hướng phân tích trên.

XÉT THẤY

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn khiếu nại, bà Tống Thị Nhài, anh Nguyễn Đức Long và anh Nguyễn Văn Tín đều khai rằng căn nhà số 150 đường Giáp Bát, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai là tài sản do vợ chồng bà Tống Thị Nhài, ông Nguyễn Văn Tý bỏ tiền mua và xây dựng mà không phải của vợ chồng anh Tín, chị Minh. Tuy nhiên, bà Nhài, anh Long và anh Tín không có chứng cứ gì để chứng minh về việc này. Ngược lại trong “Giấy nhượng nhà ở ngày 06-9-1980” ghi tên người mua nhà là anh Nguyễn Văn Tín. Sau khi mua nhà thì anh Tín là người quản lý sử dụng; do đó, có cơ sở để xác định nhà đất (khi chưa xây dựng lại) là tài sản của anh Tín có trước khi kết hôn với chị Minh. Năm 1993, ngay sau khi kết hôn, anh Tín và chị Minh đã về sống tại căn nhà trên và năm 1994 anh Tín, chị Minh đã cùng tiến hành sửa chữa tầng 1 ngôi nhà, xây dựng thành nhà 3 tầng như hiện nay. Năm 1998, khi kê khai làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, anh Tín đã kê khai là tài sản của vợ chồng. Năm 2001, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho anh Tín, chị Minh. Trong thực tế, anh Tín, chị Minh vẫn quản lý sử dụng toàn bộ căn nhà từ năm 1993 cho đến nay. Như vậy, có đủ căn cứ xác định nhà, đất tại số 150 đường Giáp Bát, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội là do anh Tín đứng tên mua trước khi kết hôn nhưng sau đó anh Tín đã tự nguyện nhập vào tài sản chung trong quá trình hôn nhân. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định là tài sản chung của vợ chồng anh Tín, chị Minh để chia khi ly hôn là có căn cứ. Khi chia tài sản chung của vợ chồng anh Tín, chị Minh, căn cứ vào quy định của pháp luật và các chứng cứ có trong vụ án cần phải xác định anh Tín là người có công sức đóng góp nhiều hơn, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm chia cho anh Tín được nhận 974.092.000 đồng và chị Minh được nhận 800.000.000 đồng là có phần có lợi cho chị Minh tại thời điểm xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, anh Tín được nhận toàn bộ bằng hiện vật là nhà, đất tại 150 đường Giáp Bát, còn chị Minh chỉ được nhận bằng tiền là 800.000.000 đồng, trong khi đó giá nhà đất tại Hà Nội có hướng tăng là có lợi cho anh Tín. Hơn nữa, chị Minh bị bệnh tim, đã phải mổ thay van 2 lá và thay van động mạch chủ nên cuộc sống bị ảnh hưởng nhiều và việc tạo lập chỗ ở mới cũng có nhiều khó khăn.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao sau khi nghe Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận cũng cho rằng tuy khi xét xử Tòa án cấp phúc thẩm có chia cho chị Minh phần tài sản có giá trị lớn hơn công sức thực tế của chị. Do anh Tín được giao toàn bộ hiện vật nhà ở, chị Minh là phụ nữ không có con, lại ốm yếu nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng nhất trí với Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là không cần thiết hủy bản án sơ thẩm và án phúc thẩm nêu trên.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291 và khoản 1 Điều 297 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng nghị số 144/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 24 tháng 11 năm 2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữ nguyên bản án dân sự phúc thẩm số 184/2005/DSPT ngày 09-9-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về ly hôn và chia tài sản khi ly hôn giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Tường Minh với bị đơn là anh Nguyễn Văn Tín.

Lý do không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC:

Tòa án các cấp xác định căn nhà là tài sản chung của hai bên đương sự là chính xác; việc phân chia tài sản đã bảo đảm quyền lợi của cả hai bên đương sự. Do đó, không có lý do để chấp nhận kháng nghị.


263
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về