Bản án 67/2019/HS-ST ngày 25/09/2019 về tội vi phạm quy định khai thác tài nguyên

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM,TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 67/2019/HS-ST NGÀY 25/09/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN

Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 72/2019/ TLST- HS, ngày 29 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa ra xét xử số 72/2019/QĐXXST- HS ngày 05/9/2019 đối với bị cáo:

1. Lương Ngọc V, sinh 1982 Tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 08/12; con ông Lương Ngọc C, sinh năm 1960; con bà Trần Thị T, sinh năm 1961; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2014; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 29/10/2018, Lương Ngọc V bị Trưởng Công an xã Vũ Xá, huyện Lục Nam ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản tại Điểm a, Khoản 1, Điều 44 Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017, với mức phạt tiền 2.000.000 đồng. V đã thi hành quyết định xử vi phạm hành chính và nộp phạt tiền xong vào ngày 29/10/2018.

Nhân thân: Ngày 21/6/2017,Chủ tịch UBND huyện Lục Nam đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản đối với Lương Ngọc V về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp (cát sỏi lòng sông) trên sông Lục Nam thuộc địa phận thôn Xuân Phú, xã Bắc Lũng, Lục Nam, Bắc Giang mà không có giấy phép quy định (với khối lượng khai thác 36m3/ngày), với mức phạt 25.000.000 đồng.V đã thi hành quyết định xử vi phạm hành chính và nộp phạt tiền xong vào ngày 21/6/2017.

Ngày 01/7/2019, Lương Ngọc V bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang khởi tố bị can về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự ( trong vụ án khác). Hiện bị cáo tại ngoại “có mặt”

2.Bị hại:

- Ủy ban nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Duy Quảng – Trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện Lục Nam đại diện theo ủy quyền “vắng mặt”

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Phạm Trọng V, sinh 1984 “vắng mặt” Trú tại :Thôn D, xã B, huyện L.

- Nguyễn Phúc H, sinh 1984 “vắng mặt” Trú tại: Thôn D, xã B, huyện L - Nguyễn Quang C, sinh 1967 “vắng mặt” Trú tại: Thôn Q, xã Bắc L, huyện L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Năm 2013,Lương Ngọc V mua lại 01 chiếc thuyền loại vỏ xi măng đã qua sử dụng không có đăng ký, đăng kiểm, không có V kiểm soát của vợ chồng tên Tuấn - Bình quê ở tỉnh Hải Dương (V không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) với giá 70.000.000 đồng, mục đích sử dụng để hút cát trên sông Lục Nam. Khi mua thuyền đã gắn sẵn máy móc phục vụ việc hút cát từ lòng sông lên thuyền bao gồm: 01 đầu máy bơm, 02 đầu máy hút gắn vòi hút, 02 chõ hút. Do sức khỏe không đảm bảo nên V thường chỉ đạo, tổ chức thuê người đi hút cát mà không trực tiếp đi trên thuyền. V giao nhiệm vụ cho Phạm Trọng V, sinh năm 1984, trú tại thôn Dẫm Đình, xã Bắc Lũng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang lái thuyền; Nguyễn Phúc H, sinh năm 1984, trú tại thôn Dẫm Đình, xã Bắc Lũng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Quang C, sinh năm 1967, trú tại thôn Quỳnh Độ, xã Bắc Lũng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang vận hành máy hút cát với tiền công thỏa thuận miệng giữa hai bên là 150.000 đồng/người/chuyến cát đầy thuyền. Cát hút được lên thuyền được V bán cho các bến ven sông Lục Nam với giá thị trường khoảng 70.000-80.000đ/m3. Chiều ngày 18/4/2019, V đã gặp Phạm Trọng V và bảo rạng sáng 19/4/2019 lái thuyền đi khai thác cát. V bảo V gọi thêm H và C đi làm cùng. V yêu cầu đi hút cát thuê vào rạng sáng 19/4/2019 để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng và người dân. Khoảng 02h sáng ngày 19/4/2019, V điện thoại cho V, H, C để nhắc nhở việc đi hút cát thuê cho mình. Sau khi nhận được điện thoại, V, H, C điều khiển xe mô tô đến tập trung tại địa điểm neo đậu thuyền của Lương Ngọc V tại bến cát nhà ông Hoàng Văn Thắng, sinh năm 1968, trú tại thôn Bình An, xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Sau đó, cả ba xuống thuyền nhổ neo, V điều khiển thuyền đến khu vực bờ sông bị sạt lở từ trước thuộc địa phận thôn Xuân Phú, xã Bắc Lũng, huyện Lục Nam,tỉnh Bắc Giang và dừng thuyền tại đây. H và C vận hành máy bơm, hai máy hút gắn với hai chõ hút cát từ lòng sông lên khoang thuyền. Còn V điều khiển thuyền để di chuyển vị trí cắm chõ hút. Sau khoảng 02 giờ khai thác thì cát được bơm lên đầy khoang thuyền 55,15 m3 cát. V điều khiển thuyền về bến của gia đình ông Hoàng Văn Thắng thì bị Tổ công tác Công an huyện Lục Nam phối hợp với Phòng tài nguyên và môi trường huyện Lục Nam, Ủy ban nhân dân xã Bắc Lũng kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Phạm Trọng V, Nguyễn Phúc H, Nguyễn Quang C không xuất trình được giấy phép khai thác, nguồn gốc số cát trên thuyền và khai nhận là người làm thuê theo sự chỉ đạo của Lương Ngọc V. Khối lượng cát khai thác trái phép đo được trên khoang thuyền là 55,15m3. Qua xác minh, Lương Ngọc V không được cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản theo quy định của Nhà nước.

Ngày 22/4/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam có yêu cầu định giá tài sản, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Nam tiến hành định giá tài sản bao gồm: 55,15m3 cát chứa trên khoang tàu không có số đăng ký do Lương Ngọc V làm chủ. Tại kết luận định giá tài sản ngày 27/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Nam kết luận: Tổng giá trị tài sản là 6.618.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định, ngày 21/6/2017, Chủ tịch UBND huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản đối với Lương Ngọc V về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp (cát sỏi lòng sông) trên sông Lục Nam thuộc địa phận thôn Xuân Phú, xã Bắc Lũng,huyện Lục Nam mà không có giấy phép theo quy định (với khối lượng khai thác 36m3/ngày), vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 8 Luật khoáng sản năm 2010. V đã thi hành quyết định xử vi phạm hành chính và nộp phạt tiền xong vào ngày 21/6/2017. Đến ngày 29/10/2018, Lương Ngọc V tiếp tục bị Công an xã Vũ Xá xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản (Khai thác cát trên sông Lục Nam) .

Đi với Phạm Trọng V, Nguyễn Phúc H, Nguyễn Quang C là người trực tiếp tiến hành việc hút cát theo sự chỉ đạo của V chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này, giá trị số lượng cát đã khai thác là 6.618.000 đồng. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý về hình sự.

Về vật chứng của vụ án, gồm: 01 thuyền loại vỏ xi măng không đăng ký, đăng kiểm, không gắn V kiểm soát đã qua sử dụng, trên thuyền trang bị máy móc phục vụ hút cát (01 đầu máy bơm; 02 đầu máy hút gắn vòi hút; 02 chõ hút) và 55,15m3 cát (loại cát xây trát) Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam chuyển xử lý cùng vụ án.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam, Lương Ngọc V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Tại Bản cáo trạng số 71/KSĐT ngày 27/8/2019 của VKSND huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Lương Ngọc V về tội “ Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND huyện Lục Nam đã luận tội, phân tích tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX:

- Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc V về tội “ Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên" - Áp dụng: Điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 227; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Lương Ngọc V từ 6 đến 12 tháng tù. Phạt bị cáo V 50.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

- Vật chứng: Áp dụng Điều 47BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tch thu sung công quỹ nhà nước 01 thuyền loại vỏ xi măng không đăng ký, đăng kiểm, không gắn V kiểm soát đã qua sử dụng, trên thuyền trang bị máy móc phục vụ hút cát (01 đầu máy bơm; 02 đầu máy hút gắn vòi hút; 02 chõ hút) và 55,15m3 cát (loại cát xây trát) Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng:Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Chứng cứ xác định có tội: Khoảng 02 giờ sáng ngày 19/4/2019, tại khu vực sạt lở ven sông Lục Nam thuộc thôn Xuân Phú, xã Bắc Lũng,huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Lương Ngọc V là chủ thuyền đã chỉ đạo Phạm Trọng V, Nguyễn Quang C, Nguyễn Phúc H là người làm thuê cho V có hành vi sử dụng thuyền trang bị máy móc phục vụ hút cát khai thác trái phép 55,15m3 cát từ lòng sông Lục Nam lên thuyền. Trước đó, ngày 29/10/2018, V đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành khai thác tài nguyên nước và khoáng sản ( Khai thác cát). Hành vi của V đã vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên không được cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản theo quy định của Nhà nước. Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Nam kết luận 55,15m3 cát, giá trị là 6.618.000 đồng.

[3]Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Ngọc V đã phạm tội “ Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên" quy định tại diểm đ khoản 1 Điều 227Bộ Luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Không Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây bức xúc trong dư luận trong nhân dân nên cần phải buộc bị cáo cải tạo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội lần đầu và phạm tội ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ăn lăn hối lỗi, tự nguyện khắc phục hậu quả nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Cần phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo khoảng 50.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

Đi với Phạm Trọng V, Nguyễn Phúc H, Nguyễn Quang C là những người trực tiếp tiến hành việc hút cát theo sự chỉ đạo của V chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này, giá trị số lượng cát đã khai thác là 6.618.000 đồng nên cơ quan điều tra Công an không đề cập xử lý về hình sự là có căn cứ theo luât.

[5] Vật chứng: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã dùng 01 thuyền loại vỏ xi măng không đăng ký, đăng kiểm, không gắn V kiểm soát đã qua sử dụng, trên thuyền trang bị máy móc phục vụ hút cát (01 đầu máy bơm; 02 đầu máy hút gắn vòi hút; 02 chõ hút) để hút cát và đã hút được 55,15m3 cát (loại cát xây trát) nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người liên quan được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc V về tội “ Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên"

- Áp dụng: Điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 227; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo Lương Ngọc V từ 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bằng tiền bị cáo V 50.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

2- Vật chứng: Áp dụng Điều 47BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tch thu sung công quỹ nhà nước 01 thuyền loại vỏ xi măng không đăng ký, đăng kiểm, không gắn V kiểm soát đã qua sử dụng, trên thuyền trang bị máy móc phục vụ hút cát (01 đầu máy bơm; 02 đầu máy hút gắn vòi hút; 02 chõ hút) và 55,15m3 cát (loại cát xây trát) 3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí.

Bị cáo Lương Ngọc V phải chị 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt án.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về