Bản án 47/2017/HSST ngày 28/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 47/2017/HSST NGÀY 28/07/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2017/HSST, ngày 27/6/2017 đối với bị cáo:

Đặng Duy L, sinh năm: 1991; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Quán Thẻ 3, xã M, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; con ông Đặng Long Phi và bà Phạm Thị Ánh Nguyệt; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 09/5/2017; có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1. Trần Văn Thắng, sinh năm 1996; công tác tại: Ban quân sự xã Vĩnh Tân (có mặt)

2. Nguyễn Văn Trường, sinh năm 1997; công tác tại: Ban quân sự xã Vĩnh Tân (có mặt)

3. Bùi Văn Vương, sinh năm 1986; công tác tại: Ban quân sự xã Vĩnh Tân (có mặt)

Người làm chứng: Trần Văn Thuộc, sinh năm 1985, địa chỉ: thôn Vĩnh Hương, xã Vĩnh Tân, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Đặng Duy L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố về hành vi phạm tội như sau: khoảng 22 giờ ngày 07/5/2017 Đặng Duy L điều khiển xe mô tô biển số 79N7-4598 chạy từ huyện T, tỉnh Ninh Thuận chạy trên Quốc lộ 1A đi vào khu vực xóm 7, xã Vĩnh Tân để chơi, khi đi đến địa phận thôn Vĩnh Hưng, xã Vĩnh Tân thì bị Công an xã Vĩnh Tân kiểm tra tạm giữ giấy tờ xe và hẹn L đến sáng ngày 08/5/2017 đến trụ sở Công an xã Vĩnh Tân để giải quyết. Sau đó L gọi điện cho Trần Văn Thuộ (bạn của L) đến đưa L về nhà người quen ở thôn Vĩnh Hưng, xã Vĩnh Tân để ngủ. Đến khoảng 03 giờ ngày 08/5/2017 thì Thuộc gọi L dậy, Thuộc điều khiển xe mô tô biển số 79N7-4598 chở L về lại huyện T. Khi đi đến gần Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân thì L nói với Thuộc, dừng xe để L đi vào Công an xã Vĩnh Tân xin giấy tờ xe, L đi vào trụ sở Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân, nhìn thấy Ban quân sự xã Vĩnh Tân không đóng cửa, L đi đến phát hiện Trần Văn Thắng, Nguyễn Văn Trường và Bùi Văn Vương đang nằm ngủ, chỗ  Thắng để 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1, chỗ Trường để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S, chỗ Vương để 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 và 01 cái bóp da, L liền lấy 03 điện thoại di động và số tiền 350.000đồng bên trong ví da, rồi đi ra xe cho Thuộc tiếp tục chở L về huyện T. Khi Thuộc chở L đi đến khu vực Công ty Việt Úc thì L nói với Thuộc “tao vừa lấy được 03 cái điện thoại”, nghe vậy Thuộc dừng xe lại chửi L và quay xe về Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân để trả lại tài sản. Khi xe chạy đến khu vực cây xăng Quang Trường thì L và Thuộc bị Thắng, Trường và Vương chặn lại, L đã trả lại 03 điện thoại di động và số tiền 350.000đồng cho Thắng, Trường và Vương. Sau đó, Thắng, Trường và Vương đã báo cáo sự việc cho công an xã Vĩnh Tân xử lý hành vi trộm cắp của Đặng Duy L.

Theo bản Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐG ngày 19/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 

+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO: 2.700.000 đồng/chiếc x 70% = 1.890.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S: 2.000.000 đồng/chiếc x 60% = 1.200.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung-Galaxy J5: 3.760.000 đồng/chiếc x 65% = 2.444.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá: 5.534.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 44/QĐ/KSĐT/VKS/HS, ngày 26/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Đặng Duy L, về tội “Trộm cắp tài sản” theo  khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự .

Theo bản cáo trạng thì bị cáo có 01 tiền án, ngày 30/8/2010 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 06 năm tù về tội Cướp tài sản, sau đó Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phúc thẩm, phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 18/4/2014. qua xác minh thì bị cáo đã thi hành xong phần bồi thường dân sự và các khoản án phí trong bản án (Biên lai thu tiền nộp NSNN số 002959 ngày 27/12/2010). Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát rút lại một phần cáo trạng (phần tiền án của bị cáo) và xác định bị cáo đã được xóa án tích theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015 (bị cáo không có tiền án) và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự, để xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đặng Duy L đã khai nhận: khoảng 22 giờ ngày 07/5/2017 Đặng Duy L điều khiển xe mô tô biển số 79N7-4598 chạy từ huyện T, tỉnh Ninh Thuận chạy trên Quốc lộ 1A đi vào khu vực xóm 7, xã Vĩnh Tân để chơi, khi đi đến địa phận thôn Vĩnh Hưng, xã Vĩnh Tân thì bị Công an xã Vĩnh Tân kiểm tra tạm giữ giấy tờ xe và hẹn L đến sáng ngày 08/5/2017 đến trụ sở Công an xã Vĩnh Tân để giải quyết. Sau đó, L gọi điện cho Trần Văn Thuộc (bạn của L) đến đưa L về nhà người quen ở thôn Vĩnh  Hưng, xã Vĩnh Tân để ngủ. Đến khoảng 03 giờ ngày 08/5/2017 thì Thuộc gọi L dậy, Thuộc điều khiển xe mô tô biển số 79N7- 4598 chở L về lại huyện T. Khi đi đến gần Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân thì L nói với Thuộc, dừng xe để L đi vào Công an xã Vĩnh Tân xin giấy tờ xe, L đi vào trụ sở Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân, nhìn thấy Ban quân sự xã Vĩnh Tân không đóng cửa, L đi đến phát hiện Trần Văn Thắng, Nguyễn Văn Trường và Bùi Văn Vương đang nằm ngủ, chỗ Thắng để 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1, chỗ Trường để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S, chỗ Vương để 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 và 01 cái bóp da, L liền lấy 03 điện thoại di động và số tiền 350.000 đồng bên trong ví da rồi đi ra xe cho Thuộc tiếp tục chở L về huyện T. Khi Thuộc chở L đi đến khu vực Công ty Việt Úc thì L nói với Thuộc “tao vừa lấy được 03 cái điện thoại”, nghe vậy Thuộc dừng xe lại chửi L và quay xe về Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân để trả lại tài sản. Khi xe chạy đến khu vực cây xăng Quang Trường thì L và Thuộc bị Thắng, Trường và Vương chặn lại, L đã trả lại 03 điện thoại di động và số tiền 350.000đồng cho Thắng, Trường và Vương. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 5.884.000đồng

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Đặng Duy L là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính tham lam lười biếng, muốn có tiền tiêu sài mà không phải lao động, nên đi trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cho cá nhân. Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo đã xâm hại tới quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Duy L, phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát và lời luận tội của ông Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Bị cáo có nhân thân không tốt, ngày 30/8/2010 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”, bị cáo kháng cáo, sau đó Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phúc thẩm, phạt 05 năm 06 tháng tù, sau khi chấp hành xong bản án (18/4/2014), nay lại tiếp tục phạm tội, nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, để răn đe những phần tử xấu có ý đồ phạm tội tương tự, nhằm bảo vệ pháp chế Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên trong giai đọan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn, sau khi chiếm đoạt bị cáo đã tự giác đem trả lại cho người bị hại, việc phạm tội chưa gây ra thiệt hại và tại phiên tòa những người bị hại đều xin giảm nhẹ mức án cho bị cáo, đây là những tình tiết giảmnhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Đối với việc đại diện Viện kiểm sát, xác định bị cáo đã được xóa án tích và rút bớt phần tiền án của bị cáo trong cáo trạng là có cơ sở, nên được chấp nhận.

Đối với tài sản bị cáo trộm cắp, những người bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Duy L, phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng:  khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ Luật hình sự

Tuyên phạt:

Bị cáo Đặng Duy L 09 (Chín) tháng tù; thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (09/5/2017).

Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và những người bị hại, báo cho họ biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/7/2017).

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại  Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


69
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
    Văn bản được căn cứ
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 47/2017/HSST ngày 28/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

    Số hiệu:47/2017/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tánh Linh - Bình Thuận
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:28/07/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về