Bản án 30/2018/DS-ST ngày 20/07/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 30/2018/DS-ST NGÀY 20/07/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2017/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2018/QĐXX-ST ngày 02 tháng 05 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín.

Địa chỉ trụ sở tại số: 266-268 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm – Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Công Khanh-Trưởng phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Chi nhánh An Giang. Theo giấy ủy quyền số 140/2017/UQ-TTT, ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Chi nhánh An Giang. (Có mặt)

Địa chỉ trụ sở chi nhánh: số 333 đường Trần Hưng Đạo, phường Mỹ Quý, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Danh Hai, sinh năm 1968.Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: thị trấn Minh Lương, huyện Châu

Thành, tỉnh Kiên Giang.

Địa chỉ đăng ký nơi tạm trú: số 32A2 đường Tôn Thất Thuyết, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 27 tháng 06 năm 2017, bổ sung ngày 24 tháng 10 năm 2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn do ông Huỳnh Công Khanh đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 05 tháng 06 năm 2009, ông Danh Hai được Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín – Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín – Chi nhánh An Giang ký kết phê duyệt theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Hai đề nghị, hạn mức tín dụng cấp cho ông Hai số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và ngày 05 tháng 09 năm 2012 Ngân hàng tiếp tục phê duyệt cho ông Hai vay tiếp số tiền 100.000.000đ, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn 2,15%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 3,225%/tháng. Kèm theo hợp đồng là bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Khi nhận cấp thẻ tín dụng, ông Hai đã thực hiện các giao dịch đến nay với tổng số tiền 268.249.667đ. Trong đó, nợ vốn 114.560.354đ, nợ lãi 153.689.343đ.

Đối với hợp đồng ngày 05 tháng 06 năm 2009, do ông Hai vi phạm nghĩa vụ thanh toán và hợp đồng ngày 05 tháng 09 năm 2012 nên đến các ngày nên ngày 15 tháng 04 năm 2015 và ngày 22 tháng 04 năm 2015 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 16 tháng 07 năm 2018 ông Hai còn nợ tiền vốn tổng cộng 268.249.667đ nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Hai thanh toán số tiền nợ vốn, nợ lãi và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng. Tổng cộng là 268.249.667đ.

Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án ông Danh Hai vắng mặt không có lý do, không ý kiến trình bày, không đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa Ngân hàng không thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với ông Hai. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Long Xuyên:

Việc tuân theo pháp luật của pháp luật tố tụng:

Trong thời gian xử lý đơn khởi kiện, ngày 27 tháng 06 năm 2017 Tòa án nhân đơn nhưng đến ngày 04 tháng 07 năm 2017 Chánh án phân công thẩm phán giải quyết. Đến ngày 01 tháng 11 năm 2017 thẩm phán tiến hành thụ lý giải quyết là vi phạm điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp; Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền và thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thông qua xác minh sự có mặt của đương sự tại nơi cư trú đối với bị đơn theo Điều 21, Điểm h Khoản 2, Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của các đương sự tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 và Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn. Đối với bị đơn ông Hai không có văn bản trình bày ý kiến, không tham gia các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự và phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật.

Ý kiến về giải quyết nội dung vụ án:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của Ngân hàng tại phiên tòa khởi kiện yêu cầu ông Hai có nghĩa vụ trả số tiền nợ vay tín dụng do ông Hai vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng tín dụng số tiền 268.249.667đ và tiếp tục duy trì lãi suất phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ vay. Ông Hai vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến trình bày. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa xét thấy ngày 05 tháng 06 năm 2009, ngày 05 tháng 09 năm 2012 Ngân hàng và ông Hai lần lượt ký các giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với số tiền 100.000.000đ. Ông Hai sử dụng các giao dịch rút tiền và thanh toán định kỳ đến các ngày 15 tháng 04 năm 2015 và ngày 22 tháng 04 năm 2015 thì ngưng không thanh toán số tiền vốn, lãi cho Ngân hàng. Nên ngân hàng chấm dứt sử dụng thẻ của ông Hai để thu hồi nợ nhưng ông Hai không thực hiện. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Hai có nghĩa vụ trả số tiền 268.249.667đ, tiếp tục duy trì lãi suất phát sinh theo hợp đồng là có căn cứ xem xét chấp nhận.

Đề nghị áp dụng Điều 474, 476 Bộ luật dân sự 2005, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Hai có trách nhiệm trả vốn, lãi cho Ngân hàng 268.249.667đ, tiếp tục duy trì lãi suất phát sinh theo thỏa thuận cho đến khi thanh toán hết nợ vay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Danh Hai không đến Tòa và vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Danh Hai.

[2] Ngân hàng ủy quyền cho ông Huỳnh Công Khanh theo giấy ủy quyền số 141/2017/UQ-TTT ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Chi nhánh An Giang. Việc ủy quyền phù hợp quy định tại Điều 581 và Điều 582 Bộ Luật dân sự năm 2005 nên chấp nhận.

[3] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Chi nhánh An Giang, tranh chấp về số tiền theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, duy trì lãi suất phát sinh theo hợp đồng. Xét, tranh chấp giữa các bên phát sinh trong hoạt động vay tiêu dùng. Bị đơn có nơi cư trú tại: số 32A2 đường Tôn Thất Thuyết, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã được thể hiện theo hợp đồng. Hiện nay, ông Danh Hai đã bỏ nơi cư trú, không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện biết. Điều này xác định là ông Hai cố tình giấu địa chỉ. Do đó, căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao xét xử vắng mặt ông Hai và vụ án thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang được quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét yêu cầu của Ngân hàng phù hợp quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 nên quan hệ pháp luật được xét là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

[4] Về nội dung vụ án:

Xét giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, kèm theo bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2009, thấy: Ông Danh Hai là người ký tên vay với tư cách là chủ thẻ chính bên vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Chi nhánh An Giang. Số tiền ông Hai được Ngân hàng phê duyệt hạn mức tín dụng là 100 triệu đồng, Việc ký kết hợp đồng, giao nhận tiền giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp quy định tại Điều 121, 122, 124 Bộ luật dân sự năm 2005 và phù hợp Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng là phù hợp quy định pháp luật.

[5] Căn cứ theo thỏa thuận của các bên trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và quá trình thực hiện hợp đồng. Ông Hai đã được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức 100 triệu đồng nhưng ông Hai không trả tiền vốn, lãi theo thỏa thuận là vi phạm Điều 2, Điều 23 của bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Hai trả nợ vốn, lãi là có cơ sở chấp nhận.

[6] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tại phiên tòa, ông Hai nợ tiền vốn 114.560.354đ, nợ lãi 153.689.343đ; tổng vốn lãi 268.249.697đ. Về mức lãi suất thể hiện theo thông báo số 113/TB-TTT ngày 04 tháng 07 năm 2011 của Ngân hàng về thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng quốc tế Sacombank thay đổi lãi suất theo từng thời kỳ. Vậy, tổng đến ngày xét xử, tiền lãi trong hạn, quá hạn bà Anh còn phải trả 153.689.343đ là có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị đơn ông Danh Hai phải nộp tiền án phí sơ thẩm. Ngân hàng không phải nộp tiền án phí sơ thẩm, trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 121, Điều 122, Điều 124, Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 581, Điều 582 của Bộ luật dân sự 2005;

Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 233, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao;

Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán TANDTC;

Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

-Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín đối với ông Danh Hai.

Buộc ông Danh Hai thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền 268.249.697đ (hai trăm sáu mươi tám triệu, hai trăm bốn mươi chín ngàn, sáu trăm
 
chín mươi bảy đồng). Trong đó, tiền vốn 114.560.354đ (một trăm mười bốn triệu, năm trăm sáu mươi ngàn, ba trăm năm mươi bốn đồng), tiền lãi phải trả 153.689.343đ (một trăm năm mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi chín ngàn, ba trăm bốn mươi ba đồng), (tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày 16 tháng 07 năm 2018.

Kể từ ngày 17 tháng 07 năm 2018, ông Danh Hai còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về án phí sơ thẩm:

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín - Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền 5.178.000đ (năm triệu, một trăm bảy mươi tám ngàn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018736 ngày 27 tháng 10 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Ông Danh Hai phải chịu 13.412.484đ, làm tròn 13.412.500đ (mười ba triệu, bốn trăm mười hai ngàn, năm trăm đồng) tiền án phí sơ thẩm.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương tín được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. ông Danh Hai được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của ông Danh Hai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự).


148
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về