Bản án 25/2018/KDTM-ST ngày 26/07/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 25/2018/KDTM-ST NGÀY 26/07/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2017/TLST-KDTM ngày 17 tháng 01 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2018/QĐXXST-KDTM ngày 30 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 128/2018/QĐST-KDTM ngày 06 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên A

Trụ sở: đường số 6, phường Bình Trị Đông B, Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Cẩm Vân (theo giấy ủy quyền số 05/GUQ-MB/2018 ngày 25/5/2018) (có mặt)

Bị đơn: Công ty Cổ phần Thương mại - Dịch vụ B

Trụ sở: đường Nguyễn Duy Trinh, phường Long Trường, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị E (theo giấy ủy quyền số 0218/UQ - TLT ngày 18/6/2018) (có mặt)

Ngưi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty Closed Joint Stock Company - Văn phòng đại diện Gloria Jeans Corporation” tại Thành phố Hồ Chí Minh (Gọi tắt là Công ty Gloria Jean Việt Nam)

Địa chỉ: 16.02 Lầu 16, Tòa nhà IPC, số 1489 đường Nguyễn Văn Linh, phường Tân Phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn là Công ty TNHH Một thành viên A trình bày:

Trong quá trình trao đổi mua bán hàng hóa, Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ B (sau đây gọi tắt là Công ty B) có mua mặt hàng dựng đã phủ keo DD9974W của Công ty TNHH MTV A (sau đây gọi tắt là Công ty A) theo Hóa đơn số: 0000715 xuất ngày 07/01/2015, tổng giá trị hóa đơn là 17.062.274 đồng. Công ty A đã nhiều lần liên hệ và yêu cầu Công ty B thanh toán số tiền mua hàng của hóa đơn này nhưng phía Công ty B không có thiện chí trả nợ. Ngày 04/8/2016, Công ty A đã gửi Công văn số: 0408/MB-2016 yêu cầu Công ty B chậm nhất là ngày 12/8/2016 phải thanh toán hết khoản nợ trên nhưng không nhận được bất cứ phản hồi nào về việc trả nợ. Nay Công ty A yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 9 buộc Công ty B phải thanh toán cho Công ty các khoản tiền sau:

- Tiền mua hàng: 17.062.274 đồng;

- Lãi suất cơ bản tạm tính từ 07/01/2015 đến ngày 07/12/2017 với số tiền 4.478.847 đồng

- Tổng số tiền mà Công ty B phải thanh toán là 21.541.121 đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm hai mươi mốt đồng). Đồng thời, yêu cầu Công ty B phải chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ.

Đại diện theo ủy quyền cho bị đơn là Công ty B trình bày: Công ty B có nhận đơn hàng keo dựng từ Công ty A đúng như phía đại diện công ty A trình bày. Nhưng Công ty B là đơn vị gia công cho Công ty Gloria Jean Việt Nam nên Công ty B chỉ là bên thứ ba nhận hàng và thanh toán thay cho Công ty Gloria Jean Việt Nam. Trong hợp đồng gia công giữa Công ty B và Công ty Gloria Jean Việt Nam có ghi Công ty B sẽ nhận hàng và thanh toán tiền nguyên phụ liệu thay cho bên Công ty Gloria Jean Việt Nam. Tuy nhiên, Công ty Gloria Jean Việt Nam và Công ty B đã xảy ra tranh chấp. Ngày 11/12/2015, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Phán quyết số 45/15 HCM buộc Công ty B phải trả cho Công ty Gloria Jean Việt Nam giá trị nguyên vật liệu của mẫu số GPT001105 là 23.610,08 USD và tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán của mẫu số GPT001105 là 389,56 USD. Phán quyết đã được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công nhận bằng Quyết định số 983/2016/QĐ-PQTT ngày 22/9/2016 và được Thi hành theo Quyết định thi hành án số 1536/QĐ-CTHADS ngày 05/6/2017 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó mẫu số GPT001105 chính là đơn hàng gia công giữa Công ty B và Công ty Gloria Jean Việt Nam lấy nguyên phụ liệu là mặt hàng dựng đã phủ keo mã DD9974-White từ Công ty A. Từ tháng 7/2017 đến nay phía Công ty B vẫn thanh toán khoản nợ theo quyết định thi hành án cho bên Công ty Công ty Gloria Jean Việt Nam. Do đó, Công ty B không chấp nhận yêu cầu của Công ty A.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn cho rằng Công ty B là khách hàng đã nhiều lần mua nguyên liệu của Công ty A và thanh toán đầy đủ. Công ty A bán nguyên liệu cho Công ty B chứ không phải bán cho Công ty Gloria Jean Việt Nam như đại diện bị đơn trình bày. Đối với đơn hàng theo Hóa đơn số 0000715 ngày 07/01/2015 giá trị là 17.062.274 đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu bị đơn phải trả 17.062.274 đồng, rút lại yêu cầu tính lãi. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng Công ty B chỉ là đơn vị nhận hàng theo yêu cầu của Công ty Gloria Jean Việt Nam nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Gloria Jean Việt Nam vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và có đơn yêu cầu tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 có ý kiến: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 kiểm sát việc tuân theo pháp luật; từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định theo thẩm quyền. Cấp, tống đạt văn bản, nộp tiền tạm ứng án phí, gửi Thông báo thụ lý đúng quy định. Quyết định xét xử đúng nội dung, thành phần xét xử, xét xử đúng thời gian, địa điểm, không có ai yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng tại phiên tòa. Người tham gia phiên tòa đúng, có năng lực hành vi, văn bản ủy quyền đúng quy định. Tuy nhiên Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã vi phạm thời hạn chuẫn bị xét xử.

Về nội dung: Đại diện viện kiểm sát cho rằng bị đơn xác nhận có nhận đơn hàng theo hóa đơn số 0000715 ngày 07/01/2015 nên phải có nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Công ty A khởi kiện yêu cầu Công ty B trả tiền mua mặt hàng theo Hóa đơn số 0000715 ngày 07/01/2015, tổng giá trị hóa đơn là 17.062.274 đồng. Bị đơn có trụ sở chính tại số 1121 đường Nguyễn Duy Trinh, phường Long Trường, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Công ty Gloria Jean Việt Nam đã có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mắt nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt.

[3] Về nội dung tranh chấp:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tranh luận tại phiên tòa có cơ sở xác định:

Công ty B có nhận mặt hàng dựng đã phủ keo DD9974W của Công ty A theo Hóa đơn số 0000715 xuất ngày 07/01/2015, tổng giá trị hóa đơn là 17.062.274 đồng. Nhưng đại diện bị đơn cho rằng, trong hợp đồng gia công giữa Công ty B và Công ty Gloria Jean Việt Nam có thỏa thuận Công ty B sẽ nhận hàng và thanh toán tiền nguyên phụ liệu thay cho Công ty Gloria Jean Việt Nam chứ không phải là bên đặt hàng với công ty A. Tuy nhiên, tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn không thừa nhận việc giao mặt hàng dựng đã phủ keo DD9974W có Hóa đơn số 0000715 ngày 07/01/2015 là theo yêu của công ty Công ty Gloria Jean Việt Nam. Hơn nữa, Tòa án đã yêu cầu Công ty B cung cấp bản dịch hợp đồng sang tiếng Việt nhưng bị đơn không cung cấp. Tại phiên tòa, bị đơn cũng không đưa ra được chứng cứ gì khác để chứng minh cho việc bị đơn nhận hàng của Công ty A là theo yêu cầu của Công ty Gloria Jean Việt Nam nên không có cơ sở chấp nhận lời khai của bị đơn.

Mặt khác, bị đơn khai rằng: Theo Quyết định thi hành án số 1536/QĐ- CTHADS ngày 05/6/2017 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh thì Công ty B phải trả cho công ty cho Công ty Fast East International Limited (Văn phòng Gloria Jean) giá trị nguyên vật liệu của mẫu số GPT001105 chính là đơn hàng gia công giữa công ty B và Công ty Gloria Jean Việt Nam lấy nguyên phụ liệu là mặt hàng dựng đã phủ keo mã DD9974-White từ công ty A. Tuy nhiên, đối chiếu tên hàng hóa tại Hóa đơn số 0000715 ngày 07/01/2015 mà Công ty A đã xuất cho Công ty B không liên quan gì đến giá trị nguyên vật liệu của mẫu số GPT001105 mà bị đơn cung cấp nên không có căn cứ chấp nhận chứng cứ này.

Căn cứ vào bản tự khai ngày 10/4/2017, đại diện cho Công ty B xác nhận “ Công ty B có nhận hàng từ công ty A và Công ty A xuất hóa đơn 0000715 ngày 07/01/2015 với số tiền là 17.062.274 đồng đến nay Công ty B vẫn chưa thanh toán”. Hơn nữa, tại phiên tòa đại diện của bị đơn cũng thừa nhận có nhận nguyên phụ liệu của Công ty A theo hóa đơn 0000715 ngày 07/01/2015 nên xét thấy nguyên đơn yêu cầu yêu cầu Công ty B phải trả số tiền mua hàng còn nợ 17.062.274 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Vì đại diện nguyên đơn rút lại yêu cầu tính lãi suất nên Hôi đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Buộc Công ty cổ phần Dịch Vụ B phải thanh toán cho Công ty TNHH Một Thành viên A số tiền 17.062.274 đồng (mười bảy triệu không trăm sáu mươi hai ngàn hai trăm bảy mươi bốn đồng) ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chưa thi hành án trên khoản tiền chưa thi hành án.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty cổ phần Dịch Vụ B phải nộp án phí là 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàn Lại cho Công ty TNHH Một Thành viên A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AC/2014/0008721 ngày 12/01/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2018/KDTM-ST ngày 26/07/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Số hiệu:25/2018/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 9 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 26/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về