Bản án 25/2017/HNGĐ-ST ngày 21/06/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY,  TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 25/2017/HNGĐ-ST NGÀY 21/06/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 21 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ  án hôn nhân  và gia đình thụ lý số 46/2017/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2017 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2017/HNGĐ-ST ngày 12/5/2017 và thông báo về việc mở phiên tòa số 185/TB-TA ngày 09/6/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị A; sinh năm 1985.

Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Xóm 20, xã G1, huyện G, tỉnh N.

Địa chỉ tạm trú: Xóm 3, HTX Q, xã G2, huyện G, tỉnh N.

Bị đơn: Anh Bùi Văn Nhật; sinh năm 1972

Địa chỉ: Xóm 20, xã G1, huyện G, tỉnh N.

Tại phiên toà: chị A có mặt, anh N có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 26-3-2017 được bổ sung tại bản tự khai, đơn trinh bày ngày 13-6-2017 và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Vũ Thị A trình bày: Tôi và anh Bùi Văn N tự nguyện tìm hiểu chúng tôi đã ở với nhau từ năm 2004 và có 01 con chung. Sau đó 04 năm sau chúng tôi mới kết hôn, được UBND xã G1cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 18-4-2008. Sau đó được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo tập quán địa phương. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh tế. Chúng tôi đã ly thân từ ngày 05-11-2015. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn không thế sống chung được nữa. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy giải quyết cho tôi được ly hôn anh Bùi Văn N.

Về con chung:Vợ chồng có 02 con chung là: Bùi Gia H; sinh ngày 23/10/2005 và Bùi Quỳnh A; sinh ngày 18/01/2013.

Hiện nay con chung đang ở với chị A.

Ý kiến của chị A về con chung khi ly hôn: Tôi nhận nuôi hai con và không yêu câu anh N cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản riêng, tài sản chung, ruộng nhận khoán của HTX, công nợ: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vào năm 2013 hai vợ chồng chị buôn bán ở trong xã G2. Ông Bùi Văn H và bà Trần Thị V xã G1 là bố mẹ chồng chị có đi vay ngân hàng 50.000.000 đồng, hợp đồng vay do ông bà đứng tên và thế chấp bằng tài sản của ông bà. Sau đó ông bà cho vợ chồng chị 30.000.000 triệu để làm ăn buôn bán. Nhưng do làm ăn thua lỗ nên ông bà cũng không yêu cầu hay đòi lại số tiền đã cho vợ chồng chị. Hiện nay ông bà đã trả xong ngân hàng. Nếu sau này bố mẹ anh N có đòi lại số tiền 30.000.000 đồng đã cho vợ chồng chị thì chị và anh N sẽ trả.

Tại bản tự khai ngày 05/4/2017 và tại phiên tòa ngày 25/5/2017, anh Bùi Văn N trình bày như sau: Về thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn của vợ chồng tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của cô A trình bày ở trên.  Vợ chồng sống với nhau được 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do kinh tế, tôi làm ăn không gặp may, làm ăn thua lỗ, cuộc sống khó khăn. Nay cô Vũ Thị A có đơn ly hôn tôi, tôi không đồng ý vì tôi muốn hai con có cả bố lẫn mẹ chăm sóc.

Về con chung:Vợ chồng có 02 con chung là: Bùi Gia H; sinh ngày 23/10/2005 và Bùi Quỳnh A; sinh ngày 18/01/2013. Hai cháu đang ở nhà ngoại với cô A, tôi vẫn thường xuyên sang thăm các cháu. Anh N không muốn ly hôn nên không có bất cứ ý kiến nào về việc nuôi con.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ, ruộng nhận khoán của HTX anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. tại đơn trình bày ngày 12/6/2017 và đơn xin vắng mặt đề ngày 15/6/2017 anh Bùi Văn N trình bày: Tại phiên tòa lần trước anh có khai vợ chồng nợ ngân hàng Agribank 50.000.000 đồng, nhưng số tiền đó là do bố mẹ anh đứng lên vay sau đó cho vợ chồng anh làm ăn buôn bán, bố mẹ anh đã tự trả, hiện nay không còn nợ ngân hàng và không có yêu cầu gì. Hiện nay bố mẹ anh cũng không yêu cầu vợ chồng anh trả cho ông bà. Bố mẹ anh không liên quan gì đến việc ly hôn của vợ chồng anh nên bố mẹ anh không tham gia phiên tòa. Nếu sau này bố mẹ anh đòi lại khoản tiền đã cho vợ chồng anh để buôn bán thì vợ chồng anh sẽ trả lại. Anh xin được vắng mặt tại phiên tòa.

Tại bản tự khai ngày 20/4/2017 cháu Bùi Gia H trình bày: Cháu là con của bố Bùi Văn N và mẹ Vũ Thị A. Bố mẹ cháu mâu thuẫn và ly hôn, nguyện vọng của cháu là sống với mẹ cháu và mong bố mẹ cháu về với nhau. Cháu không muốn bố mẹ ly hôn nhau, mong bố mẹ về với nhau. Nếu bố mẹ ly hôn cháu xin ở với mẹ.

Tại công văn số 92/NHNo ngày 02 – 6- 2017 của Ngân hàng Agribank chi nhánh huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định về việc trả lời về khoản vay có liên quan đến vụ án ly hôn theo công văn số 161/TB-TA của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy. Qua rà soát hồ sơ Agribank chi nhánh Giao Thủy có ý kiến: Hộ gia đình bà Trần Thị V. Địa chỉ: Xóm 20, xã G1, huyện G, tỉnh N ngày 08/9/2015 có vay số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 28/4/2016 trả nợ 20.000.000 đồng. Đến ngày 31/5/2017 tất toán khoản vay trên  số tiền  trả gốc là 30.000.000 đồng và lãi vay. Như vậy gia đình bà Trần Thị V đã trả hết nợ ngân hàng Agribank.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, tòa án nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị A và anh Bùi Văn N tự nguyện tìm hiểu, được UBND xã G2 cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 18/4/2008 là hôn nhân hợp pháp.

Sau cưới vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh tế, làm ăn không gặp may mắn. Vợ chồng sống ly thân từ ngày 05/11/2015, chị Vũ Thị A đang ở nhà bố mẹ đẻ ở xã G2, còn anh N đang ở nhà bố mẹ đẻ ở xã G1, huyện G. Tòa án đã hòa giải nhiều lần nhưng chị A vẫn quyết tâm xin ly hôn. Còn anh N vẫn không muốn ly hôn nhưng vợ chồng không có biện pháp gì để hàn gắn mâu thuẫn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, cuộc sống chung khó có thể hàn gắn được vì mỗi người ở một nơi, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận nguyện vọng của chị L xin ly hôn anh N là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung:Vợ chồng có 02 con chung là: Bùi Gia H; sinh ngày 23/10/2005 và Bùi Quỳnh A; sinh ngày 18/01/2013.

Hiện nay cả 02 con chung đang ở với chị A, nguyện vọng của chị A là nhận nuôi 02 con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Còn anh N thường đi làm ăn ở xa, hiện nay lại không có công việc ổn định, chị A đang buôn bán ở gần nhà, có thu nhập ổn định, 02 con chung đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng, cháu lớn đang học ở xã G2 và có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn xin ở với mẹ, cháu bé mới hơn 4 tuổi cần có sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy cần giao 02 con chung của vợ chồng cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập được là phù hợp

Anh N được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản quyền này.

Về tài sản riêng, tài sản chung; ruộng khoán HTX nông nghiệp cũng như các mối quan hệ khác về tài sản các đương sự đều không có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét ở vụ án này.

Về án phí: chị Vũ Thị A phải nộp án phí ly hôn và án phí nuôi con theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ  Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị A và anh Bùi Văn N.

2. Về con chung: Giao chị Vũ Thị A trực tiếp nuôi 02 con chung là Bùi Gia H; sinh ngày 23/10/2005 và Bùi Quỳnh A; sinh ngày 18/01/2013 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập. Anh N không phải  góp cấp dưỡng nuôi con.

Anh N được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản quyền này.

3. Về án phí ly hôn: chị Vũ Thị A phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy theo biên lai số 07590 ngày 28 tháng  3 năm 2017.

4. Về quyền kháng cáo: chị Vũ Thị A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Bùi Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với nhau về việc thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


96
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2017/HNGĐ-ST ngày 21/06/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:25/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/06/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về