Bản án 18/2019/HNGĐ-ST ngày 19/11/2019 về ly hôn, nuôi con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÀ GIANG

BẢN ÁN 18/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2019 VỀ LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2019, về việc Ly hôn, nuôi con chung; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Thị Giang

2. Bị đơn: Anh Đặng Quang Tiến

Đa chỉ: SN 54, đường Hoàng Hoa Thám, tổ 01, phường Trần Phú, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 09/7/2019; bản tự khai ngày 09/8/2019 và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Giang khai: Chị và anh Tiến đăng ký kết hôn ngày 12/7/2012, tại UBND phường Trần Phú, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang do tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, tìm cảm vợ chồng lạnh nhạt. Chị và anh Tiến đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2019 đến nay, không quan tâm đến nhau. Do không còn tình cảm, nên chị được ly hôn với anh Tiến. Về con chung: Chị và anh Tiến có hai con chung là cháu Đặng Thùy Ngân, sinh ngày 23/7/2012 và cháu Đặng Thanh Trúc sinh ngày 16/01/2017. Ly hôn chị và anh Tiến mỗi người nuôi dưỡng một con, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.

- Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh Tiến không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, không có quan điểm của anh Tiến về việc chị Giang xin ly hôn và nuôi con chung.

Tài sản chung, công nợ chung: Không có Anh Tiến có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà:

- Chị Giang giữ nguyên quan điểm của mình về việc xin ly hôn, nuôi con chung; tài sản chung, công nợ chung: không có * Quan điểm của Đại diện VKS thành phố Hà Giang:

- Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong qúa trình giải quyết vụ án. Xác minh thu thập chứ cứ đầy đủ, thông báo cho Viện Kiểm sát về việc Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp tống đạt văn bản tố tụng đúng quy định.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa HĐXX, thư ký phiên tòa thực hiện đúng pháp luật, thủ tục bắt đầu phiên tòa được Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 239 BLTTDS.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, các tài liệu do đương sự cung cấp phù hợp với quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, 72 BLTTDS, bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS.

- Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy chị Giang và anh Tiến đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn vợ chồng sống ly thân, chị Giang có đơn xin ly hôn, anh Tiến không đến Tòa án giải quyết vụ án nên không có quan điểm về việc giải quyết các mối quan hệ gia đình. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cho chị Giang được ly hôn với anh Tiến.

- Về con chung: Chị Giang và anh Tiến có hai con chung là cháu Đặng Thùy Ngân, sinh ngày 23/7/2012 và cháu Đặng Thanh Trúc; sinh ngày 16/01/2017; ly hôn chị Giang xin được nuôi cháu Trúc, để cho anh Tiến nuôi cháu Ngân, nguyện vọng của cháu Ngân cũng muốn được ở cùng bố, nên việc giao cháu Ngân cho anh Tiến nuôi cháu ngân là phù hợp. Do đượng sự không có yêu cầu cầu về cấp dưỡng nên không giải quyết.

- Tài sản chung, công nợ chung: Không có.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 BLTTDS , điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án chị Giang chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Lý Thị Giang và anh Đặng Quang Tiến cùng cư trú địa chỉ: Tổ 01, phường Trần Phú, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang.

- Anh Đặng Quang Tiến trong quá trình giải quyết vụ án không đến Tòa án để tham gia tố tụng và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt. Do đó, thuộc trường hợp vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207- BLTTDS. Căn cứ khoản 1 Điều 227 - BLTTDS Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[ 2]. Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án:

Đây là vụ án xin ly hôn các đương sự yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung. Như vậy, đủ căn cứ xác định quan hệ tranh chấp là Ly hôn, nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS và điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1] .Về yêu cầu xin ly hôn: Chị Giang và anh Tiến đăng ký kết hôn ngày 12/7/2012, tại UBND phường Trần Phú, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang do tự nguyện. Như vậy, hôn nhân giữa chị Giang và anh Tiến là hợp pháp.

Lý do chị Giang xin ly hôn là sau khi kết hôn cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp. Hai bên đã có thời gian khắc phục mâu thuẫn, cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân trong thời gian dài. Do không còn tình cảm, nên chị xin được ly hôn với anh Tiến. HĐXX xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị Giang là phù hợp bởi lẽ: Quá trình chung sống chị Giang và anh Tiến không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không khắc phục được tình cảm. Theo biên bản xác minh ngày 12/8/2019; ngày 29/8/2019 đã xác định định được anh chị đã sống ly thân từ tháng 3/2019 đến nay không quan tâm đến nhau. Nếu cứ tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân thì cuộc sống của anh chị cũng không có hạnh phúc, mục đích cuộc hôn nhân không đạt đựơc. Theo biên bản làm việc với cơ quan Quản lý Nhà nước về gia đình và trẻ em xác định muân thuẫn giữa chị Giang anh Tiến là thực tế. Mặt khác anh Tiến cũng không thiện chí để khắc phục mâu thuẫn, không tham gia hòa giải. Như vậy, có căn cứ xác định tình cảm vợ chồng của chị Giang anh Tiến đã mâu thuẫn trầm trọng. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Giang là phù hợp với quy định tại điều 56 - Luật HN&GĐ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Giang đối với anh Tiến.

[3.2]. Về con chung: Chị Giang và anh Tiến có hai con chung là cháu Đặng Thùy Ngân; sinh ngày 23/7/2012 và cháu Đặng Thanh Trúc sinh ngày 16/01/2017. Ly hôn chị Giang có nguyện vọng nuôi cháu Trúc và để anh Tiến cháu Ngân, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, thực tế chị Giang và anh tiến đều có công việc nhưng không ổn định, hiện nay cháu Ngân đang ở với anh Tiến, nguyện vọng của cháu Ngân cũng muốn được ở với bố. Do vậy, cần giao chị Giang và anh Tiến mỗi người nuôi một con chung là phù hợp với điều kiện thực tế và đúng quy định của pháp luật. Do chị Giang và anh tiến không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không giải quyết việc cấp dưỡng.

[3.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.

[3.4]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu , miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Giang phải chịu án phí Ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình;

- Căn cứ vào Điều 207, khoản 1 Điều 227; khoản 4 Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Thị Giang được ly hôn anh Đặng Quang Tiến.

2. Về con chung: Giao cho chị Lý Thị Giang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đặng Thanh Trúc, sinh ngày 16/01/2017; giao cho anh Đặng Quang Tiến trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu Đặng Thanh Ngân, sinh ngày 23/7/2012 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Giang, anh Tiến không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung, và cùng có quyền nghĩa vụ chăm sóc con chung.

Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung là không cố định.

3. Tài sản chung, công nợ chung: Không có.

4. Về Án phí: Chị Giang chịu toàn bộ án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000đ được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang biên lai số 01290 ngày 16 tháng 7 năm 2019. Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị Giang biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. anh Tiến có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự , người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2019/HNGĐ-ST ngày 19/11/2019 về ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:18/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Giang - Hà Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về