Bản án 107/2019/HNGĐ-ST ngày 04/03/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 107/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/03/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 556/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn, và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Dương Tuấn Đ, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số nhà 542 (nay là số nhà 804 đường Điện Biên), xóm 5, thôn Phú Ốc, xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số nhà 542 (nay là số nhà 804 đường Đ), xóm 5, thôn P, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng: Bà Dương Thị Ngừ, sinh năm 1949, nơi cư trú: Số nhà 542 (nay là số nhà 804 đường Đ), xóm 5, thôn P, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn là anh Dương Tuấn Đ có mặt, bị đơn là chị Nguyễn Ngọc H vắng mặt không có lý do, người làm chứng là bà Dương Thị N có đơn đề nghị từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 13-12-2018, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Dương Tuấn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 05-6-2012 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không nói được nhau, chị H ham chơi làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, anh đã khuyên bảo nhưng chị H vẫn không thay đổi, năm 2017 anh đã phải trả nợ cho chị nhiều lần, năm 2018 nhiều người kéo đến nhà yêu cầu chị H trả nợ, đến ngày 09-01-2019 chị H đã bỏ nhà đi, sau khi bỏ đi đã có nhiều người đến nhà anh yêu cầu chị H trả nợ, do chị H bỏ đi không đòi được nợ nên họ đã ném đá và chất bẩn vào nhà, gia đình đã phải nhờ chính quyền địa phương can thiệp giải quyết. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9-2018 cho đến nay. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị giải quyết ly hôn với chị H.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Dương Anh T, sinh ngày 11-7-2012 và Dương Tuấn M, sinh ngày 06-5-2015. Hiện tại các con đang ở cùng với anh và ông bà nội. Ly hôn anh có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con vì hiện đang công tác tại Công an phường T, thành phố N có thu nhập lương, nhà ở ổn định đảm bảo được cuộc sống cho các cháu.

Về tài sản và công nợ chung: Anh Dương Tuấn Đ không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 27-12-2018 bị đơn là chị Nguyễn Ngọc H trình bày thống nhất với anh Dương Tuấn Đ về điều kiện kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo chị vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11-2018 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính cách hai bên không hòa hợp, tuy nhiên chị không nhất trí ly hôn với anh Đ mà đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như anh Đ trình bày. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con Dương Anh T và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản và công nợ chung: Chị H không đề nghị giải quyết.

Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ các ngày 03-01-2019, ngày 17-01-2019 và ngày 18-01-2019 chính quyền địa phương nơi anh Đ và chị H sinh sống cung cấp: Vợ chồng anh Đ, chị H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H ham chơi, dẫn đến vay nợ nhiều người, bản thân chị H không có công ăn việc làm nên không có khả năng chi trả. Chủ nợ thường xuyên kéo đến nhà đòi nợ gây mất trật tự an ninh. Ngày 09-01-2019 chị H đã bỏ đi khỏi địa phương và không xin tạm trú, tạm vắng nên chính quyền không biết hiện nay chị H đang ở đâu. Sau khi chị H bỏ đi ngày 11-01-2019 nhiều người đã kéo đến nhà anh Đ yêu cầu chị H phải trả nợ, nhiều ngày tiếp theo gia đình anh Đ vẫn bị một số người ném gạch đá vào nhà, Công an xã L đã phải đến can thiệp.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 18-01-2019 của bà Dương Thị N là mẹ đẻ anh Đ cung cấp: Sau khi kết hôn anh Đ, chị H chung sống với vợ chồng bà. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh Đ chị H phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H không tu trí làm ăn, không có công việc và thu nhập, bản thân chị H ham chơi, nợ nần nhiều người, gia đình đã phải trả nợ cho chị H nhiều lần. Chị H đã bỏ đi từ ngày 09-01-2019 mà không nói là đi đâu và không liên lạc gì với gia đình, để lại hai đứa con cho anh Đ và vợ chồng bà nuôi dưỡng. Sau khi chị H bỏ đi nhiều người đến nhà đòi nợ, gây rối, gia đình bà đã phải báo công an xã L đến giải quyết. Bà đề nghị không tham gia tố tụng tại Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định căn cứ Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 97 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhận xét đánh giá về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự.

Về nội dung: Xét mâu thuẫn giữa anh Dương Tuấn Đ và chị Nguyễn Ngọc H đã trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử ly hôn giữa anh Dương Tuấn Đ và chị Nguyễn Ngọc H.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cả cả hai cháu Dương Anh T và Dương Tuấn M cho anh Dương Tuấn Đ nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con anh Đ không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Anh Đ và chị H không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Nguyễn Ngọc H đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Người làm chứng là bà Dương Thị N có đơn đề nghị từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử không triệu tập bà Ngừ đến tham gia phiên tòa.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Tuấn Đ và chị Nguyễn Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 6 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống của anh Dương Tuấn Đ, và chị Nguyễn Ngọc H phát sinh mâu thuẫn do chị H không quan tâm đến gia đình, ham chơi, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9-2018, không còn quan tâm tới nhau nữa, chị H đã bỏ đi khỏi địa phương không biết hiện nay đang sinh sống ở đâu. Xét mâu thuẫn của vợ chồng anh Đ, và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử có căn cứ xử cho ly hôn giữa anh Dương Tuấn Đ và chị Nguyễn Ngọc H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: anh Dương Tuấn Đ và chị Nguyễn Ngọc H xác định có hai con chung là Dương Anh T, sinh ngày 11-7-2012 và Dương Tuấn Minh, sinh ngày 06-5-2015. Xét điều kiện của các bên, đối với anh Dương Tuấn Đ, Công an thành phố N xác nhận hiện anh đang công tác tại Công an phường T, thành Phố N có tiền lương, phụ cấp hàng tháng và tại Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ông Dương Doãn K và bà Dương Thị N là bố mẹ anh Đ thể hiện đã cho tặng anh Đ quyền sử dụng đất và nhà ở. Còn đối với chị Nguyễn Ngọc H không có việc làm và do nợ nhiều người không có khả năng thanh toán nên đã bỏ đi khỏi địa phương, không xin tạm trú, tạm vắng, và gia đình không biết chị đang sinh sống ở đâu. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cả hai con là Dương Anh T và Dương Tuấn M cho anh Dương Tuấn Đ trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của anh Đ không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung và công nợ: Anh Dương Tuấn Đ và chị Nguyễn Ngọc H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn là anh Dương Tuấn Đ phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Dương Tuấn Đ và chị Nguyễn Ngọc H.

2. Về nuôi con: Giao cả hai con Dương Anh T, giới tính: Nữ, sinh ngày 11-7-2012 và Dương Tuấn M, giới tính: Nam, sinh ngày 06-5-2015 cho anh Dương Tuấn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Dương Tuấn Đ không yêu cầu chị Nguyễn Ngọc H cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Ngọc H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Dương Tuấn Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000388 ngày 13 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

4. Quyền kháng cáo: Anh Dương Tuấn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 107/2019/HNGĐ-ST ngày 04/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:107/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về