- Trung tâm trọng tài quốc tế được đặt tại đâu? Trung tâm trọng tài quốc tế có tư cách pháp nhân không?
- Hoạt động của Trung tâm trọng tài quốc tế được quy định ra sao?
- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế như thế nào?
- Tiêu chuẩn của sáng lập viên, trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế hiện nay ra sao?
Trung tâm trọng tài quốc tế được đặt tại đâu? Trung tâm trọng tài quốc tế có tư cách pháp nhân không?
Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 328/2025/NĐ-CP có quy định như sau:
Thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế
1. Trung tâm trọng tài quốc tế do Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp phép thành lập khi có ít nhất 05 sáng lập viên có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định này đề nghị thành lập.
2. Trung tâm trọng tài quốc tế được đặt tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng, hoạt động độc lập về tổ chức, tài chính.
3. Việc thành lập, đăng ký hoạt động, công bố thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế thực hiện theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại và Nghị định này.
Theo đó, Trung tâm trọng tài quốc tế được đặt tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng, hoạt động độc lập về tổ chức, tài chính.

Trung tâm trọng tài quốc tế được đặt tại đâu? Trung tâm trọng tài quốc tế có tư cách pháp nhân không? (Hình từ Internet)
Hoạt động của Trung tâm trọng tài quốc tế được quy định ra sao?
Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 328/2025/NĐ-CP có quy định về hoạt động của Trung tâm trọng tài quốc tế như sau:
(1) Hoạt động của Trung tâm trọng tài quốc tế thực hiện theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại, Nghị quyết 222/2025/QH15 và Nghị định 328/2025/NĐ-CP.
(2) Quyền và nghĩa vụ của Trung tâm trọng tài quốc tế thực hiện theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại.
(3) Trung tâm trọng tài quốc tế có trách nhiệm bảo đảm hoạt động hiệu quả, công bằng và minh bạch.
(4) Việc áp dụng pháp luật nước ngoài của Trung tâm trọng tài quốc tế thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 222/2025/QH15 và khoản 2 Điều 14 Luật Trọng tài thương mại 2010.
(5) Trường hợp các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài quốc tế, các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu Tòa án hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên hoặc phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp luật của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế. Tòa án không giải quyết yêu cầu hủy phán quyết, quyết định của Hội đồng trọng tài khi các bên đã có văn bản thỏa thuận từ bỏ quyền này.
(6) Thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu Tòa án hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên hoặc phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp luật của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế là một phần của thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật trọng tài thương mại.
Tòa án không được từ chối giải quyết yêu cầu hủy phán quyết, quyết định của Hội đồng trọng tài trong các trường hợp sau đây:
- Thỏa thuận từ bỏ thuộc các trường hợp thỏa thuận vô hiệu quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010;
- Thỏa thuận được lập sau thời điểm một bên nộp yêu cầu hủy phán quyết, quyết định của Hội đồng trọng tài ra Tòa án.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế như thế nào?
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 328/2025/NĐ-CP về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế như sau:
(1) Trung tâm trọng tài quốc tế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thỏa thuận giữa các bên liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Trung tâm tài chính quốc tế theo quy tắc và quy định do Trung tâm trọng tài quốc tế ban hành, trừ các tranh chấp quy định tại (2).
(2) Trung tâm trọng tài quốc tế không giải quyết các tranh chấp sau đây:
- Tranh chấp có đối tượng là quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước hoặc người có thẩm quyền;
- Tranh chấp liên quan đến lao động;
- Tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân;
- Vấn đề khác liên quan đến quản lý nhà nước đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, của Tòa án có thẩm quyền tại Việt Nam.
Tiêu chuẩn của sáng lập viên, trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế hiện nay ra sao?
Căn cứ theo Điều 7 Nghị định 328/2025/NĐ-CP có quy định về tiêu chuẩn của sáng lập viên, trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế cụ thể như sau:
(1) Người có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể làm sáng lập viên Trung tâm trọng tài quốc tế:
- Là công dân Việt Nam;
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015;
- Có trình độ đại học trở lên;
- Có trình độ Tiếng Anh từ bậc 5 trở lên trong khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hoặc tương đương;
- Có ít nhất 10 năm kinh nghiệm thực tiễn về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài liên quan đến lĩnh vực đầu tư, kinh doanh; ưu tiên có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng;
- Đã tham gia ban hành ít nhất 10 phán quyết trọng tài;
- Là trọng tài viên của một Trung tâm trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.
(2) Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế bao gồm công dân Việt Nam và công dân nước ngoài. Trung tâm trọng tài quốc tế quy định tiêu chuẩn Trọng tài viên của tổ chức mình.
(3) Các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:
- Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án;
- Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];