Trong năm 2026, nam nữ bao nhiêu tuổi thì đủ tuổi kết hôn?
Căn cứ tại khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về điều kiện kết hôn của nam, nữ như sau:
Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Theo đó, điều kiện để nam nữ kết hôn phải thỏa:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định.
Như vậy, năm nay là năm 2026 thì những người sinh năm sau đây đủ tuổi kết hôn:
Nam sinh năm 2006 đã đến ngày sinh nhật lần thứ 20.
Nữ sinh năm 2008 đã đến ngày sinh nhật lần thứ 18.
Ví dụ: Nam sinh ngày 30/4/2006 thì từ ngày 30/4/2026 là đủ tuổi kết hôn.
Nữ sinh ngày 17/02/2008 thì từ ngày 17/02/2026 là đủ tuổi kết hôn.

Trong năm 2026, nam nữ bao nhiêu tuổi thì đủ tuổi kết hôn? Có yêu cầu giấy khám sức khỏe tiền hôn nhân khi kết hôn? (Hình từ Internet)
Khi kết hôn có yêu cầu giấy khám sức khỏe tiền hôn nhân không?
Cũng căn cứ tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về điều kiện kết hôn như sau:
- Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
+ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
+ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
+ Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
+ Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Đồng thời tại khoản 2 Điều 18 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, cụ thể:
Người yêu cầu đăng ký kết hôn xuất trình giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 13 Nghị định 18/2026/NĐ-CP); trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, hồ sơ đăng ký kết hôn gồm các giấy tờ sau đây:
- Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định; hai bên nam, nữ có thể sử dụng 01 Tờ khai chung;
- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng cấp không quá 6 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ xác nhận công dân nước láng giềng hiện tại là người không có vợ hoặc không có chồng;
- Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng.
Theo các căn cứ trên, điều kiện đăng ký kết hôn và giấy tờ xuất trình khi đăng ký kết hôn không bắt buộc yêu cầu khám sức khỏe tiền hôn nhân.
Như vậy cho đến thời điểm hiện tại, không có quy định pháp luật về bắt buộc khám sức khỏe tiền hôn nhân. Vì thế, khi kết hôn không yêu cầu phải có giấy khám sức khỏe tiền hôn nhân.
Không kết hôn thì có bắt buộc phải cấp dưỡng cho con không?
Căn cứ quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.
Đồng thời, căn cứ tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
...
Theo đó, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp không đăng ký kết hôn không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Như vậy, không đăng ký kết hôn thì cha, mẹ - người không trực tiếp nuôi con vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];