Từ 1/7/2026, cơ sở đào tạo lái xe ô tô phải đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật như thế nào theo Thông tư 94?
Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 94/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Theo đó, tại Điều 9 Nghị định 94/2026/NĐ-CP quy định về Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật đối với trung tâm sát hạch lái xe.
Từ 1/7/2026, cơ sở đào tạo lái xe ô tô phải đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật như sau:
(1) Hệ thống phòng học chuyên môn
- Phòng sử dụng học lý thuyết: có các trang thiết bị làm công cụ hỗ trợ việc giảng dạy về các nội dung: pháp luật giao thông đường bộ, đạo đức người lái xe, văn hóa giao thông, phòng chống tác hại của rượu, bia khi tham gia giao thông và phòng chống cháy nổ và cứu nạn, cứu hộ; trường hợp, các thiết bị công nghệ thông tin chưa mô tả hệ thống báo hiệu đường bộ, sa hình, thì phải có hệ thống tranh vẽ;
- Phòng sử dụng học kỹ thuật ô tô: bảo đảm diện tích không nhỏ hơn 1,50 m2/học viên, diện tích phòng học không nhỏ hơn 100 m2/phòng; có các thiết bị công nghệ thông tin làm công cụ hỗ trợ việc giảng dạy về cấu tạo, sửa chữa thông thường và kỹ thuật lái xe, kiến thức mới về nâng hạng; có mô hình cắt bổ động cơ, hệ thống truyền lực và hệ thống điện; có trang bị đồ nghề chuyên dùng để hướng dẫn học viên thực hành tháo lắp lốp, kiểm tra dầu xe, nước làm mát; có xe ô tô được kê kích bảo đảm an toàn để tập số nguội, số nóng; có cabin học lái xe. Trường hợp, các thiết bị công nghệ thông tin chưa có sơ đồ mô tả cấu tạo và nguyên lý hoạt động của động cơ, hệ thống truyền lực, hệ thống treo, hệ thống phanh, hệ thống lái, các thao tác lái xe cơ bản (điều chỉnh ghế lái, tư thế ngồi lái, vị trí cầm vô lăng lái...), thì phải có hệ thống tranh vẽ.
Trong trường hợp, mô hình cắt bổ động cơ, hệ thống truyền lực, hệ thống điện; khu vực hướng dẫn học viên thực hành tháo lắp lốp, kiểm tra dầu xe, nước làm mát; xe ô tô để tập số nguội, số nóng; cabin học lái xe ô tô được bố trí ở khu vực riêng biệt khác thì diện tích phòng học không nhỏ hơn 48 m2/phòng;
- Hệ thống phòng học chuyên môn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cơ sở đào tạo lái xe; cơ sở đào tạo lái xe ô tô bố trí số lượng phòng sử dụng học lý thuyết và phòng sử dụng học kỹ thuật ô tô phù hợp với lưu lượng, hình thức và chương trình đào tạo; số lượng phòng học tính theo lưu lượng học viên; được xác định theo nguyên tắc 01 phòng sử dụng học lý thuyết và 01 phòng sử dụng học kỹ thuật ô tô đáp ứng tối đa lưu lượng 500 học viên.
(2) Xe tập lái
- Cơ sở đào tạo phải có xe tập lái đáp ứng việc đào tạo lái xe theo các hạng được phép đào tạo, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cơ sở đào tạo lái xe; được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xe tập lái; đối với đơn vị có dịch vụ đào tạo và trung tâm sát hạch lái xe, trong thời gian xe sát hạch không được sử dụng để phục vụ nhu cầu sát hạch và ôn luyện, được sử dụng làm xe tập lái;
- Xe tập lái các hạng phải sử dụng các loại xe tương ứng với hạng giấy phép lái xe quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024. Trong đó: xe tập lái hạng B gồm xe sử dụng loại chuyển số tự động (bao gồm cả ô tô điện) hoặc chuyển số cơ khí (số sàn); xe tập lái hạng C1, C, D1, D2, D, BE, C1E, CE, D1E, D2E và DE sử dụng loại chuyển số cơ khí (số sàn);
- Xe tập lái được gắn 02 biển “TẬP LÁI” trước và sau xe theo mẫu quy định tại Phụ lục I kèm theo Nghị định 94/2026/NĐ-CP; có hệ thống phanh phụ được lắp đặt bảo đảm hiệu quả phanh, được bố trí bên ghế ngồi của giáo viên dạy thực hành lái xe; xe tập lái trên đường giao thông có gắn cố định thiết bị giám sát thời gian và quãng đường học thực hành lái xe của học viên; trường hợp xe tập lái loại ô tô tải có chở học viên trên thùng xe phải có mui che mưa, che nắng, ghế ngồi cho học viên;
- Xe mô tô ba bánh để làm xe tập lái cho người khuyết tật là xe mô tô ba bánh dùng cho người khuyết tật đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe;
- Xe ô tô hạng B dùng làm xe tập lái cho người khuyết tật là xe ô tô hạng B sử dụng loại chuyển số tự động (bao gồm cả ô tô điện) đáp ứng các quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 Điều 9 Nghị định 94/2026/NĐ-CP; trường hợp người học khuyết tật bàn chân phải hoặc bàn tay phải hoặc bàn tay trái; xe tập lái còn phải có kết cấu phù hợp để các tay và chân còn lại của người khuyết tật vừa giữ được vô lăng lái, vừa dễ dàng điều khiển cần gạt tín hiệu báo rẽ, đèn chiếu sáng, cần gạt mưa, cần số, cần phanh tay, bàn đạp phanh chân, bàn đạp ga trong mọi tình huống khi lái xe theo đúng chức năng thiết kế của nhà sản xuất ô tô hoặc được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cải tạo xe cơ giới xác nhận hệ thống điều khiển của xe phù hợp để người khuyết tật lái xe an toàn.
(3) Sân tập lái xe
- Thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cơ sở đào tạo lái xe; đối với đơn vị có dịch vụ đào tạo và trung tâm sát hạch lái xe, trong thời gian sân sát hạch không được sử dụng để phục vụ nhu cầu sát hạch và ôn luyện, được sử dụng làm sân tập lái;
- Cơ sở đào tạo lái xe ô tô bố trí số lượng sân tập lái phù hợp với lưu lượng và chương trình đào tạo; số lượng sân tập lái tính theo lưu lượng học viên; được xác định theo nguyên tắc 01 sân tập lái ô tô đáp ứng tối đa lưu lư ợng 1.000 học viên;
- Sân tập lái xe ô tô phải có đủ hệ thống biển báo hiệu đường bộ, bảo đảm diện tích để bố trí đủ các bài học theo nội dung chương trình đào tạo đối với các hạng xe dùng để đào tạo; việc bố trí hình và kích thước các bài tập lái xe ô tô tổng hợp theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Trung tâm sát hạch lái xe cơ giới đường bộ đối với từng hạng xe tương ứng và phải được bó vỉa;
- Mặt sân có cao độ và hệ thống thoát nước bảo đảm không bị ngập nước; bề mặt các làn đường và hình tập lái được thảm nhựa hoặc bê tông xi măng, có đủ vạch sơn kẻ đường.
(4) Có hệ thống thiết bị và phần mềm ứng dụng định danh và xác thực điện tử để kết nối thông qua API tới các nền tảng số quốc gia có liên quan, bảo đảm việc nhận diện, định danh, xác thực và cung cấp giấy tờ điện tử của học viên từ khi đăng ký đào tạo đến khi đăng ký sát hạch lái xe.
*Trên đây là "Từ 1/7/2026, cơ sở đào tạo lái xe ô tô phải đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật như thế nào theo Thông tư 94?"

Từ 1/7/2026, cơ sở đào tạo lái xe ô tô phải đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật như thế nào theo Thông tư 94? (Hình từ Internet)
Thu hồi giấy phép đào tạo lái xe ô tô trong trường hợp nào theo quy định mới?
Điều 21 Nghị định 94/2026/NĐ-CP quy định về thu hồi giấy phép đào tạo lái xe ô tô trong trường hợp:
- Cơ sở đào tạo bị thu hồi giấy phép đào tạo lái xe ô tô khi vi phạm một trong các trường hợp sau:
+ Có hành vi gian lận để được thành lập hoặc cấp giấy phép đào tạo lái xe ô tô;
+ Cơ sở đào tạo lái xe không tổ chức hoạt động đào tạo lái xe trong thời gian 24 tháng liên tục;
+ Bị đình chỉ tuyển sinh đào tạo lái xe ô tô từ 02 lần trở lên trong thời gian 18 tháng;
+ Giấy phép được cấp không đúng với thẩm quyền hoặc sai quy định;
+ Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung trên giấy phép được cấp;
+ Cho thuê, cho mượn giấy phép đào tạo lái xe ô tô;
+ Cơ sở đào tạo lái xe giải thể theo quy định của pháp luật.
- Trình tự thực hiện thu hồi:
+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 94/2026/NĐ-CP hoặc giải thể hoạt động đào tạo lái xe, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi giấy phép đào tạo lái xe ô tô, thông báo đến Cục Đường bộ Việt Nam để theo dõi và công bố trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục chính cấp tỉnh, cấp xã; đồng thời cập nhật hết hiệu lực đối với giấy phép đào tạo lái xe cấp bằng hình thức điện tử;
- Cơ sở đào tạo lái xe ô tô phải nộp lại giấy phép đào tạo lái xe ô tô cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép đào tạo lái xe ô tô, đồng thời dừng toàn bộ các hoạt động đào tạo lái xe ô tô theo giấy phép đã bị thu hồi ngay sau khi quyết định có hiệu lực. Trong trường hợp cơ quan cấp đã sáp nhập, chia tách, giải thể hoặc không còn thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép đào tạo lái xe ô tô thì cơ sở đào tạo lái xe phải nộp lại giấy phép đào tạo lái xe ô tô cho cơ quan đã ban hành quyết định thu hồi.
Tiêu chuẩn giáo viên dạy lái xe theo Nghị định 94 quy định thế nào?
Điều 10 Nghị định 94/2026/NĐ-CP quy định về Tiêu chuẩn giáo viên dạy lái xe như sau:
(1) Giáo viên dạy lý thuyết đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành luật, công nghệ ô tô, công nghệ kỹ thuật ô tô, lắp ráp ô tô hoặc các ngành nghề khác có nội dung đào tạo chuyên ngành pháp luật hoặc ô tô chiếm 30% trở lên;
- Có một trong các văn bằng, chứng chỉ về trình độ nghiệp vụ sư phạm sau: Bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên; Bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, cao đẳng sư phạm kỹ thuật. Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ sơ cấp nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 1 trở lên.
(2) Giáo viên dạy thực hành lái xe đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề hoặc bằng nghề trở lên;
- Có giấy phép lái xe hạng tương ứng hoặc cao hơn hạng xe đào tạo;
- Có một trong các văn bằng, chứng chỉ về trình độ nghiệp vụ sư phạm sau: Bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên; Bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, cao đẳng sư phạm kỹ thuật; Chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ sơ cấp nghề; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp; Chứng chỉ bồi dưỡng sư phạm bậc 1 trở lên;
- Đã qua tập huấn về nghiệp vụ dạy thực hành lái xe theo chương trình khung quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định 94/2026/NĐ-CP.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];