Toàn văn Nghị quyết 04/NQ-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng chi tiết?

Nguyễn Văn Phú 17,580 lượt xem
08:51 | 13/04/2026
Toàn văn Nghị quyết 04/NQ-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng chi tiết?
Nội dung chính
  1. Toàn văn Nghị quyết 04/NQ-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng chi tiết?
  2. Tham nhũng là gì?
  3. Thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị xác minh tài sản, thu nhập trong công tác phòng chống tham nhũng ra sao?

Toàn văn Nghị quyết 04/NQ-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng chi tiết?

NÓNG: Tài liệu học tập Nghị quyết ngày 13/4/2026 TOÀN QUỐC

NÓNG: Điểm cầu trực tiếp học tập Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV ngày 13/4/2026 TOÀN QUỐC

NÓNG: Hướng dẫn nghiên cứu học tập Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa 14 ngày 13/4/2026 trên toàn quốc? Tải tài liệu Hướng dẫn?

NÓNG: Nội dung và Chương trình Hội nghị học tập Nghị quyết ngày 13/4/2026

Ngày 1/4/2026, Ban chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết 04/NQ-TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.

>>> TẢI VỀ Toàn văn Nghị quyết 04/NQ-TW năm 2026

Theo đó, tại Mục I Nghị quyết 04/NQ-TW năm 2026 nêu rõ mục tiêu và quan điểm về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng như sau:

(1) Mục tiêu

Kiên quyết, kiên trì phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng,

Nhà nước và chế độ; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số" liên tục trong những năm tới; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch, hiện đại.

(2) Quan điểm

- Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự giám sát của Nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; kiên quyết, kiên trì, thường xuyên, liên tục, từ cơ sở, chi bộ đảng.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp để "không thể, không dám, không muốn, không cần" tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

- Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, của Nhân dân lên trên hết và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Vừa kiên quyết, kiên trì đấu tranh, vừa kiến tạo phát triển, khuyến khích, bảo vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người dân.

- Đẩy mạnh phòng ngừa, phòng ngừa từ gốc là căn bản, kiểm soát quyền lực là cốt lõi, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trọng tâm; kết hợp chặt chẽ phòng ngừa với phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh, có trọng tâm, trọng điểm.

Chủ động nhận diện, dự báo, cảnh báo, xử lý vi phạm từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kiểm soát hiệu quả các điều kiện phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là các lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

- Xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhân văn, thuyết phục, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét kỹ bối cảnh lịch sử cụ thể và lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội, lợi ích quốc gia – dân tộc để xử lý phù hợp. Ưu tiên thu hồi tối đa tài sản, khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả.

- Kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức, văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh; chú trọng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Chủ động hội nhập và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam.

Toàn văn Nghị quyết 04/NQ-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng chi tiết?

Toàn văn Nghị quyết 04/NQ-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng chi tiết? (Hình từ Internet)

Tham nhũng là gì?

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 định nghĩa về tham nhũng như sau:

Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.
2. Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm:
a) Cán bộ, công chức, viên chức;
b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
c) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

Như vậy, tham nhũng được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.

Thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị xác minh tài sản, thu nhập trong công tác phòng chống tham nhũng ra sao?

Theo Điều 42 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 được sửa đổi bởi khoản 15 Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi 2025 quy định thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị xác minh tài sản, thu nhập như sau:

(1) Khi có một trong các căn cứ quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 41 của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 hoặc khi xét thấy cần có thêm thông tin để phục vụ cho công tác cán bộ, cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây có quyền yêu cầu hoặc kiến nghị Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập:

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu xác minh đối với người dự kiến được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội bầu, phê chuẩn hoặc bổ nhiệm, người dự kiến được bổ nhiệm Phó Tổng Kiểm toán nhà nước;

- Chủ tịch nước yêu cầu xác minh đối với người dự kiến được bổ nhiệm Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xác minh đối với người dự kiến được bổ nhiệm Thứ trưởng và chức vụ tương đương thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ, người dự kiến được bầu hoặc đề nghị phê chuẩn chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu xác minh đối với người dự kiến được bổ nhiệm Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu xác minh đối với người dự kiến được bổ nhiệm Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018;

- Thường trực Hội đồng nhân dân yêu cầu xác minh đối với người dự kiến được Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn;

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh yêu cầu xác minh đối với người dự kiến được bầu hoặc đề nghị phê chuẩn chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

- Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam yêu cầu xác minh đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Cơ quan thường vụ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội yêu cầu xác minh đối với người dự kiến được bầu tại đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội;

- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc người có thẩm quyền quản lý cán bộ đối với người có nghĩa vụ kê khai yêu cầu hoặc kiến nghị xác minh đối với người có nghĩa vụ kê khai thuộc thẩm quyền quản lý, sử dụng trực tiếp của mình, trừ trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g và h khoản 1 Điều 41 của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018.

(2) Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác có quyền yêu cầu Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập xác minh tài sản, thu nhập nếu trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án xét thấy cần làm rõ về tài sản, thu nhập có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

*Lưu ý: Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Văn Phú Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Quyết định số 940/QĐ-TTg xác định ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành?

Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định số 940/QĐ-TTg. của Thủ tướng Chính phủ xác định phát triển VNeID trở thành Nền tảng số quốc gia, an toàn, hiện đại, có khả năng mở rộng cao...