Toàn văn dự thảo Nghị định quy định về phòng chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao?
Cổng thông tin điện tử Bộ Công an đang lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Nghị định quy định về phòng chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao.

>>> Tải về Toàn văn dự thảo Nghị định quy định về phòng chống tội phạm mạng
(1) Phạm vi điều chỉnh
Dự thảo Nghị định đề xuất quy định chi tiết khoản 5 Điều 14 Luật An ninh mạng 2025, bao gồm các nội dung sau:
- Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh và xử lý tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao;
- Quy định biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn xử lý thông tin, hành vi sử dụng công nghệ thông tin, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng;
- Xác định thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong phòng, chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao;
- Quy định cơ chế phối hợp trong nước và hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao.
(2) Đối tượng áp dụng
Dự thảo Nghị định đề xuất áp dụng đối với:
- Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng; Cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến an ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao;
- Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước và nước ngoài cung cấp, sử dụng sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng.
(3) Hiệu lực thi hành
Dự thảo Nghị định dự kiến có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Theo đó, nguyên tắc phòng, chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao được đề xuất tại Điều 4 dự thảo Nghị định như sau:
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước; phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng Công an nhân dân và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao;
- Kết hợp đồng bộ các biện pháp phòng ngừa và đấu tranh, pháp luật, nghiệp vụ, kỹ thuật và công nghệ; gắn phòng, chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao với bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội;
- Tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm lợi ích của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và cùng có lợi, không can thiệp công việc nội bộ của quốc gia khác theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Toàn văn dự thảo Nghị định quy định về phòng chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao? (Hình ảnh từ Internet)
Đề xuất quản lý hội, nhóm trên không gian mạng phòng, chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao ra sao?
Việc quản lý hội, nhóm trên không gian mạng phòng, chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao được đề xuất tại Điều 7 dự thảo Nghị định như sau:
(1) Nhà cung cấp dịch vụ internet, viễn thông, mạng xã hội có trách nhiệm:
- Thiết lập và thực hiện cơ chế quản lý, giám sát và xử lý các hội nhóm trên nền tảng do mình cung cấp nhằm ngăn chặn việc lợi dụng hội nhóm để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
- Áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp để phát hiện, cảnh báo, xử lý hội, nhóm có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
- Thực hiện việc định danh, xác thực điện tử thông tin chủ quản hội, nhóm theo quy định của pháp luật;
- Thiết lập cơ chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, tố giác của người sử dụng dịch vụ đối với hội, nhóm vi phạm;
- Cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan đến hội, nhóm khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
- Xây dựng cơ chế xác thực thành viên và kiểm duyệt nội dung đăng tải;
- Cung cấp công cụ hỗ trợ cơ quan chuyên trách để rà quét, phát hiện và tố giác hội nhóm, tài khoản, bài viết có dấu hiệu vi phạm pháp luật và phối hợp xử lý tố giác trong thời gian không quá 24 giờ cho các yêu cầu thông thường và không quá 03 giờ cho trường hợp khẩn cấp đe dọa xâm hại an ninh quốc gia, đe dọa tính mạng con người.
(2) Chủ quản, người kiểm duyệt nội dung hội nhóm trên mạng xã hội có trách nhiệm:
- Tổ chức, quản lý hoạt động của hội, nhóm bảo đảm tuân thủ pháp luật Việt Nam;
- Đề ra nội quy, quy định của hội, nhóm phù hợp với quy định của pháp luật và điều khoản sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp, văn hóa, thuần phong mỹ tục của Việt Nam;
- Kiểm soát thành viên, nội dung đăng tải; kịp thời loại bỏ nội dung vi phạm pháp luật và báo cáo với nhà cung cấp dịch vụ hoặc cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện dấu hiệu tội phạm;
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của hội nhóm do mình quản lý.
(3) Người tham gia hội nhóm trên không gian mạng có trách nhiệm:
- Tuân thủ quy định của pháp luật, nội quy hội nhóm và các điều khoản sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp;
- Không đăng tải, chia sẻ, bình luận nội dung vi phạm pháp luật;
- Kịp thời phản ánh, tố giác hành vi vi phạm với chủ quản hội, nhóm, nhà cung cấp dịch vụ hoặc cơ quan có thẩm quyền;
- Cung cấp thông tin liên quan đến hội nhóm cho cơ quan chuyên trách khi được yêu cầu phối hợp xác minh, xử lý vụ việc.
Lưu ý: Việc quản lý hội nhóm trên mạng xã hội phải bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự do ngôn luận, quyền riêng tư và các quyền hợp pháp khác của cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật.
Chính sách của Nhà nước về an ninh mạng từ 01/7/2026?
Căn cứ theo quy định tại Điều 3 Luật An ninh mạng 2025 về chính sách của Nhà nước về an ninh mạng từ 01/7/2026 như sau:
- Xây dựng không gian mạng lành mạnh, không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Ưu tiên bảo vệ an ninh mạng trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, cơ yếu, phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và đối ngoại.
- Ưu tiên bố trí nguồn lực xây dựng, phát triển lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ bảo vệ an ninh mạng; nâng cao năng lực cho lực lượng bảo vệ an ninh mạng và tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng; ưu tiên đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ hiện đại phục vụ bảo vệ an ninh mạng; có cơ chế đặc thù, chính sách ưu đãi để huy động, thu hút, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lĩnh vực an ninh mạng.
- Đẩy mạnh liên kết, đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong bảo vệ an ninh mạng; khuyến khích, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng, xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh mạng; nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng; sử dụng sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng của Việt Nam.
- Mở rộng hợp tác quốc tế về an ninh mạng để tăng cường khả năng bảo vệ an ninh mạng; phòng, chống tội phạm mạng và các mối đe dọa về an ninh mạng xuyên quốc gia; tiếp thu công nghệ hiện đại nhằm nâng cao năng lực tự chủ an ninh mạng quốc gia.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];