Toàn văn Công văn 610/BHXH-VP về công tác phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 2031?
Ngày 10/3/2026, Bảo Hiểm xã hội Việt Nam đã có Công văn 610/BHXH-VP năm 2026 về công tác phục vụ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI
>>> TẢI VỀ Toàn văn Công văn 610/BHXH-VP năm 2026

Theo đó, Để chủ động tổ chức tốt các mặt công tác của hệ thống Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam phục vụ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI; BHXH Việt Nam yêu cầu các đơn vị tập trung thực hiện một số nội dung sau:
(1) Về công tác giải quyết chế độ BHXH, BHTN, BHYT và thủ tục hành chính
Tập trung giải quyết kịp thời, đúng quy định hồ sơ hưởng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT và hồ sơ thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý; bảo đảm quyền lợi của người tham gia, người thụ hưởng; tuyệt đối không để chậm trễ, quá hạn, tồn đọng kéo dài làm phát sinh kiến nghị, phản ánh, khiếu nại vượt cấp. Rà soát ngay để tập trung xử lý dứt điểm hồ sơ còn tồn đọng.
- Thực hiện nghiêm quy định về tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả hồ sơ; đẩy mạnh cải cách hành chính; tuân thủ đúng quy trình, nghiệp vụ; nâng cao chất lượng tiếp nhận, xử lý và trả kết quả; tăng cường phối hợp giữa các phòng, bộ phận, đơn vị trong quá trình giải quyết công việc, không để xảy ra tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, chậm chuyển, chậm xử lý hoặc thiếu thống nhất trong tham mưu, trả lời.
- Trường hợp hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết, không thụ lý giải quyết thì phải thông tin kịp thời, trả lời tổ chức, cá nhân bằng văn bản hoặc theo hình thức phù hợp theo quy định, nêu rõ lý do, căn cứ và nội dung cần bổ sung, hoàn thiện; không trả lời chung chung, không để người dân, đơn vị phải đi lại nhiều lần.
(2) Về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
- Rà soát các vụ việc còn tồn đọng, các vụ việc khiếu kiện đông người, kéo dài, phức tạp hoặc có nguy cơ khiếu nại vượt cấp để tập trung chỉ đạo giải quyết ngay từ cơ sở; không để vụ việc diễn biến phức tạp, phát sinh “điểm nóng”.
- Thực hiện nghiêm công tác tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đúng thẩm quyền, đúng trình tự, đúng thời hạn; tăng cường đối thoại, giải thích, xử lý dứt điểm các vụ việc thuộc thẩm quyền. Đối với vụ việc phức tạp, nhạy cảm hoặc vượt thẩm quyền, phải kịp thời báo cáo, xin ý kiển chỉ đạo, không để kéo dài.
(3) Về công tác khám bệnh, chữa bệnh BHYT
- Tăng cường phối hợp với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT trên địa bàn nhằm bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT; kịp thời tiếp nhận, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các phản ánh liên quan đến thủ tục khám bệnh, chữa bệnh, thời gian chờ, việc cung ứng thuốc, vật tư y tế, chỉ định dịch vụ kỹ thuật và việc yêu cầu người bệnh tự chỉ trả các chỉ phí thuộc phạm vi quyền lợi hưởng BHYT.
- Đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân về quyền lợi khi tham gia BHYT; phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hướng dẫn người dân sử dụng thẻ BHYT điện tử, căn cước công dân gắn chip hoặc ứng dụng VNeID khi khám bệnh, chữa bệnh; kịp thời tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính cho người bệnh.
- Phối hợp, đề nghị các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh niêm yết công khai giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; bảo đảm cung ứng đầy đủ thuốc, vật tư y tế, thiết bị y tế, giường bệnh theo quy định; không để xảy ra tình trạng yêu cầu người bệnh tự mua thuốc, vật tư y tế, tự chi trả chi phí xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng hoặc các chi phí khác thuộc phạm vi quyền lợi hưởng BHYT.
- Tăng cường giám sát, kiểm tra tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm, nhất là việc yêu cầu người bệnh tự nộp tiền đối với các dịch vụ thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT hoặc thu các khoản không đúng quy định; tổng hợp, kịp thời báo cáo BHXH Việt Nam các vụ việc nổi cộm, phức tạp, ảnh hưởng đến quyền lợi người bệnh.
(4) BHXH các tỉnh, thành phố
Căn cứ tình hình thực tế tại địa phương để tổ chức triển khai thực hiện; nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động theo dõi, nắm bắt tình hình, kịp thời báo cáo, cung cấp thông tin phục vụ các hội nghị tiếp xúc cử trì (nếu có); đồng thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, đề xuất về BHXH Việt Nam để được hướng dẫn, chỉ đạo, bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ được Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính giao.
(5) Về tổ chức thực hiện và trách nhiệm của người đứng đầu
- Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, Giám đốc BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; quán triệt đến toàn thể viên chức, người lao động nâng cao tình thần trách nhiệm, chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, quy tắc ứng xử, thái độ phục vụ Nhân dân.
- Chủ động rà soát, bố trí viên chức, người lao động có phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tỉnh thần trách nhiệm và kinh nghiệm phù hợp tại các vị trí trực tiếp tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết phản ánh, kiến nghị và các khâu công tác dễ phát sinh bức xúc; kịp thời chấn chỉnh, xử lý theo thẩm quyền đối với các trường hợp thiếu trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy công việc, giải quyết chậm trễ hoặc gây phiền hà trong thực hiện nhiệm vụ.
Chủ động nắm tình hình, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh thuộc phạm vi quản lý; tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tại địa phương trong quá trình giải quyết vụ việc.
Thủ trưởng các đơn vị chịu trách nhiệm trước Giám đốc BHXH Việt Nam nếu để xảy ra tình trạng chậm trễ trong giải quyết hồ sơ, đơn thư, phản ánh, kiến nghị do nguyên nhân chủ quan hoặc để phát sinh vụ việc phức tạp thuộc phạm vi quản lý.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, Giám đốc BHXH các tỉnh, thành phố nghiêm túc triển khai thực hiện.

Toàn văn Công văn 610/BHXH-VP về công tác phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 2031? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc bảo hiểm xã hội là gì?
Căn cứ Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về nguyên tắc bảo hiểm xã hội như sau:
(1) Mức hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng bảo hiểm xã hội; có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.
(2) Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện do người tham gia lựa chọn.
(3) Người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không được tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
(4) Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
(5) Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia, người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
(6) Thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để xác định điều kiện hưởng lương hưu và trợ cấp tuất hằng tháng tính theo năm, một năm phải tính đủ 12 tháng. Trường hợp tính mức hưởng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm, từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm.
(7) Việc giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội được xác định theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thời điểm hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
Danh mục đầu tư và phương thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội mới nhất 2026 ra sao?
Căn cứ Điều 122 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về danh mục đầu tư và phương thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội như sau:
(1) Danh mục đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội tại thị trường trong nước bao gồm:
- Công cụ nợ của Chính phủ, bao gồm trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc Nhà nước, công trái xây dựng Tổ quốc;
- Trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;
- Tiền gửi tại các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước trên 50% vốn điều lệ; không thực hiện đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội tại các ngân hàng thương mại đang được kiểm soát đặc biệt;
- Trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước trên 50% vốn điều lệ; không thực hiện đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội tại các ngân hàng thương mại đang được kiểm soát đặc biệt.
(2) Đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội tại thị trường quốc tế là trái phiếu Chính phủ.
(3) Phương thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bao gồm tự đầu tư, ủy thác đầu tư tại thị trường trong nước, thị trường quốc tế.
(4) Chính phủ quy định lộ trình đa dạng hóa, tiêu chí danh mục đầu tư, cơ cấu đầu tư và phương thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội, bảo đảm nguyên tắc quy định tại Điều 121 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];