Thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không? Thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam?

Nguyễn Đỗ Bảo Trung 489 lượt xem
10:28 | 15/12/2025
Thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không? Thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam?
Nội dung chính
  1. Thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không? Thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam?
  2. Trẻ em dưới 16 tuổi muốn sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam phải đăng ký thông tin tài khoản ra sao?
  3. Thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật trên mạng như thế nào?

Thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không? Thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam?

Thông tin về thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không, thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam dưới đây:

Thời gian vừa qua, trên các nền tảng mạng xã hội lan truyền thông tin rằng "Cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam" làm xôn xao dư luận. Vậy, "Thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không? Thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam?".

>> Đây là thông tin sai sự thật, làm xôn xao dư luận.

Theo đó, căn cứ tại Hiến pháp 2013, Luật An ninh mạng 2018, Luật An toàn thông tin mạng 2015, Luật Trẻ em 2016, v.v... không có bất kỳ văn bản nào quy định việc cấm trẻ dưới 16 tuổi dùng MXH tại Việt Nam.

Vì thế, người dân cần thận trọng khi tiếp nhận thông tin trên mạng, chỉ nên tham khảo nguồn tin chính thống như Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Báo Chính phủ, hoặc các cơ quan báo chí, truyền thông uy tín để tránh bị nhiễu loạn thông tin.

"Hiện nay Việt Nam không có quy định cấm trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội. Thông tin lan truyền trên mạng về việc “cấm trẻ dưới 16 tuổi dùng MXH” là sai sự thật, dễ gây hiểu nhầm và hoang mang dư luận. Do đó, người dân cần tỉnh táo tiếp nhận thông tin, ưu tiên tham khảo các nguồn chính thống để bảo đảm hiểu đúng và đầy đủ quy định của pháp luật." - Đây là chia sẻ của Luật gia Bùi Tường Vũ, Giám đốc THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.

*Trên đây là thông tin về thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không, thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam!

Thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không? Thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam?

Thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không? Thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam? (Hình ảnh Internet)

Trẻ em dưới 16 tuổi muốn sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam phải đăng ký thông tin tài khoản ra sao?

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị định 147/2024/NĐ-CP quy định về trẻ em dưới 16 tuổi muốn sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam phải đăng ký thông tin tài khoản như sau:

Điều kiện về tổ chức, nhân sự, kỹ thuật đối với trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội trong nước
...
3. Ngoài việc bảo đảm các điều kiện kỹ thuật quy định tại khoản 2 Điều này, hệ thống kỹ thuật thiết lập mạng xã hội phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu sau:
a) Lưu trữ thông tin của người sử dụng dịch vụ từ Việt Nam khi đăng ký tài khoản mạng xã hội, bao gồm: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, số điện thoại di động tại Việt Nam (hoặc số định danh cá nhân); trường hợp người sử dụng dịch vụ là trẻ em (dưới 16 tuổi) thì cha, mẹ hoặc người giám hộ theo pháp luật dân sự của trẻ em đăng ký tài khoản bằng thông tin của cha, mẹ hoặc người giám hộ theo pháp luật dân sự của trẻ em và có trách nhiệm giám sát, quản lý nội dung trẻ em truy cập, đăng tải và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội;

Như vậy, trẻ em dưới 16 tuổi muốn sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam phải đăng ký thông tin tài khoản bằng thông tin của cha, mẹ hoặc người giám hộ theo pháp luật dân sự của trẻ em và có trách nhiệm giám sát, quản lý nội dung trẻ em truy cập, đăng tải và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội.

Thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật trên mạng như thế nào?

Căn cứ theo Điều 80 Nghị định 147/2024/NĐ-CP quy định về ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật trên mạng như sau:

(1) Các bộ, ngành, địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện, hoặc phối hợp thực hiện ngăn chặn, xử lý thông tin vi phạm pháp luật trên mạng liên quan tới lĩnh vực, địa bàn quản lý. Trường hợp cần thiết, kịp thời gửi thông tin vi phạm pháp luật trên mạng liên quan tới lĩnh vực, địa bàn quản lý tới Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử), Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) để xử lý.

(2) Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục An toàn thông tin), Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) là đầu mối chỉ đạo và giám sát tuân thủ đối với các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ lưu trữ web (hosting), dịch vụ trung tâm dữ liệu (data center) và các doanh nghiệp khác thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật trên mạng.

(3) Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử) và Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) là đầu mối chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông, Internet thực hiện từ chối cung cấp hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, các dịch vụ khác đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ để đăng tải thông tin vi phạm pháp luật trên mạng.

(4) Doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ lưu trữ web (hosting), dịch vụ trung tâm dữ liệu (data center) và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng viễn thông có trách nhiệm:

- Thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ các nội dung, dịch vụ, ứng dụng trên mạng vi phạm pháp luật chậm nhất là 24 giờ kể từ khi có yêu cầu bằng văn bản, điện thoại hoặc thư điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục An toàn thông tin), Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao);

- Từ chối cung cấp hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, các dịch vụ khác đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ để đăng tải thông tin vi phạm pháp luật trên mạng theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử), Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao);

- Doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet kết nối, nhận yêu cầu điều phối, báo cáo kết quả qua hệ thống kỹ thuật và thực hiện các biện pháp xử lý khác theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục An toàn thông tin), Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao).

(5) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm:

- Triển khai các giải pháp trên thiết bị truy cập mạng do doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng để bảo vệ người sử dụng không truy cập vào các nguồn thông tin vi phạm pháp luật, ngăn chặn nguy cơ mất an toàn thông tin mạng; kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu với hệ thống kỹ thuật của Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục An toàn thông tin), Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao);

- Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn và điều phối các doanh nghiệp triển khai các giải pháp theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 80 Nghị định 147/2024/NĐ-CP.

Nguyễn Đỗ Bảo Trung
Nguyễn Đỗ Bảo Trung Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Công nghệ thông tin Xem thêm

Pháp luật
Hướng dẫn cập nhật thông tin sinh hoạt nơi cư trú 2026 trên Dịch vụ công, Hệ thống thủ tục hành chính của Đảng như thế nào?

Để cập nhật thông tin chi bộ sinh hoạt nơi cư trú năm 2026, đảng viên truy cập Hệ thống Dịch vụ công của Đảng, đăng nhập bằng VNeID mức độ 2, vào mục thông tin tài khoản đảng viên và chọn chức năng cập nhật tương ứng. Nếu dữ liệu cá nhân hoặc thông tin tổ chức đảng bị sai lệch, cần liên hệ cán bộ phụ trách hoặc cấp ủy có thẩm quyền để được xử lý đúng quy trình.

Pháp luật
Hướng dẫn cập nhật thông tin Đảng viên trực tuyến 2026 qua Dịch vụ công, Sổ tay đảng viên, VNeID thế nào? Đảng viên tự cập nhật ra sao?

Nếu đảng viên muốn tự kiểm tra và cập nhật thông tin trong năm 2026, nên bắt đầu tại dichvucong.dcs.vn, đăng nhập bằng VNeID mức độ 2, vào mục thông tin tài khoản đảng viên và kiểm tra thông tin chi bộ sinh hoạt nơi cư trú. Đối với thông tin cá nhân bị sai trong dữ liệu quản lý đảng viên, cần liên hệ cán bộ phụ trách để được điều chỉnh đúng quy trình.

Pháp luật
Làm sạch gắn số định danh cho 12 triệu dữ liệu văn bằng chứng chỉ trên VNeID hoàn thành trước ngày nào 2026?

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương triển khai đồng bộ dữ liệu học bạ, văn bằng, chứng chỉ để tích hợp trên VNeID và chỉ đạo các cơ sở giáo dục làm sạch, gắn số định danh cho 12 triệu dữ liệu văn bằng, chứng chỉ trên VNeID, chi tiết tại Thông báo 510/TB-VPCP năm 2026 dưới đây.

Bài viết mới nhất