Thông tin về hiện tượng EI Nino 2026 và nhận định về khả năng thiếu nước theo Công văn 3764/BNNMT-KTTV ra sao?
Dưới đây là nội dung "Thông tin về hiện tượng EI Nino 2026 và nhận định về khả năng thiếu nước theo Công văn 3764/BNNMT-KTTV ra sao?" như sau:
Ngày 17/4/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có Công văn 3764/BNNMT-KTTV năm 2026 thông tin về hiện tượng El Nino và nhận định sớm về khả năng thiếu hụt nguồn nước.
>>> TẢI VỀ Công văn 3764/BNNMT-KTTV năm 2026

Theo đó, theo dữ liệu quan trắc và các mô hình dự báo khí hậu cho thấy hệ thống ENSO đang chuyển pha từ trạng thái La Nina sang trung tính và có khả năng cao chuyển sang El Nino trong khoảng thời gian từ tháng 6/2026 - 8/2026 với xác suất từ 80 - 90%, sau đó tiếp tục phát triển và có khả năng đạt cường độ từ trung bình đến mạnh vào cuối năm 2026;
Trong đó, không loại trừ khả năng xuất hiện El Nino rất mạnh (xác suất khoảng 20 - 25%) trong giai đoạn từ tháng 10/2026 - 12/2026 và có thể kéo dài sang năm 2027.
Mặc dù các mô hình dự báo dài hạn vẫn còn tồn tại những bất định nhất định, song để phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành phòng, chống thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kính báo cáo một số nhận định sớm về tình hình El Nino, nguồn nước trên phạm vi cả nước như sau:
Tại Việt Nam, các điều kiện khô nóng đã xuất hiện sớm từ đầu năm 2026; nắng nóng gia tăng sớm hơn trung bình nhiều năm.
Lượng mưa từ đầu năm đến giữa tháng 4 thiếu hụt phổ biến từ 10 - 40% so với trung bình nhiều năm (TBNN) trên phạm vi cả nước; dòng chảy và mực nước tại nhiều lưu vực sông xuống mức thấp nhất trong chuỗi quan trắc cùng kỳ1 .
Đây là dấu hiệu cảnh báo sớm về nguy cơ thiếu hụt nguồn nước ngay từ đầu mùa. Trong thời gian tới, nếu El Nino hình thành theo kịch bản dự báo, nhiệt độ trung bình trên cả nước có xu hướng cao hơn bình thường, số ngày nắng nóng gia tăng, cường độ gay gắt hơn năm 2025. Lượng mưa có khả năng thiếu hụt ngay trong các tháng mùa khô năm 2026, đặc biệt giai đoạn từ cuối năm 2026 đến đầu năm 2027, với mức giảm phổ biến 25 - 50%.
Đồng thời, mùa mưa có khả năng kết thúc sớm. Nguồn nước trên các lưu vực sông có khả năng tiếp tục suy giảm; các hồ chứa lớn, đặc biệt trên hệ thống sông Đà tổng lượng dòng chảy từ tháng 5/2026 đến tháng 7/2026 có khả năng thiếu hụt từ 10-25% so với TBNN, nguy cơ cao xảy ra thiếu hụt nguồn nước do lượng dòng chảy từ ngoài lãnh thổ giảm kết hợp với thiếu hụt mưa trong nước, tiềm ẩn rủi ro ảnh hưởng đến cấp nước hạ du và an ninh năng lượng.
Nguy cơ cao xảy ra hạn hán và xâm nhập mặn, đặc biệt ở khu vực Nam Trung Bộ, cao nguyên Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô 2026 - 2027, đồng thời tình trạng thiếu nước có thể xảy ra trên phạm vi rộng trong những tháng đầu năm 2027.
Đáng lưu ý, trong các kỳ El Nino, mặc dù tổng lượng mưa giảm, vẫn có thể xuất hiện các đợt mưa lớn cục bộ, mưa cực đoan trong thời gian ngắn gây lũ quét, sạt lở đất, ngập úng đô thị.
Hoạt động bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông có xu hướng ít hơn trung bình nhiều năm, song cần đề phòng các cơn bão mạnh, quỹ đạo phức tạp, khó dự báo và gây tác động lớn trong thời gian ngắn. (Thông tin dự báo chi tiết tại Phụ lục kèm theo).
Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị dự báo theo dõi chặt chẽ diễn biến khí tượng thủy văn, đặc biệt là tình hình ENSO, nguồn nước và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm; kịp thời cập nhật, ban hành các bản tin dự báo, cảnh báo phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương.
Trên đây là "Thông tin về hiện tượng EI Nino 2026 và nhận định về khả năng thiếu nước theo Công văn 3764/BNNMT-KTTV ra sao?"

Thông tin về hiện tượng EI Nino 2026 và nhận định về khả năng thiếu nước theo Công văn 3764/BNNMT-KTTV ra sao? (Hình từ Internet)
Chính sách của Nhà nước về tài nguyên nước ra sao?
Căn cứ Điều 4 Luật Tài nguyên nước 2023 quy định chính sách của Nhà nước về tài nguyên nước như sau:
- Hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa công tác quản lý tài nguyên nước hướng tới quản trị tài nguyên nước quốc gia trên nền tảng công nghệ số thông qua Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, hệ thống công cụ hỗ trợ ra quyết định, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực trong công tác quản lý tài nguyên nước.
- Ưu tiên đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác nguồn nước, tích trữ nước, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư khai thác nước cấp cho sinh hoạt, sản xuất cho người dân ở các vùng khan hiếm nước ngọt, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tạo điều kiện tiếp cận nước sinh hoạt cho người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và các đối tượng dễ bị tổn thương khác.
- Ưu tiên đầu tư xây dựng mạng quan trắc, giám sát tài nguyên nước, Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, nâng cao khả năng dự báo tài nguyên nước, lũ, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng và các tác hại khác do nước gây ra.
- Khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước; bảo vệ, phát triển nguồn nước, nguồn sinh thủy; tích trữ nước và phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; điều hòa, phân phối tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra.
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn, nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến để quản lý, bảo vệ, phục hồi, phát triển nguồn nước; khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, sử dụng nước tuần hoàn, tái sử dụng nước; xử lý nước biển thành nước ngọt; thu gom, sử dụng nước mưa, bổ sung nhân tạo nước dưới đất; phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra.
- Mở rộng, tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế về tài nguyên nước.
Tổ chức, cá nhân không phải kê khai, cấp phép khai thác tài nguyên nước trong những trường hợp nào?
Tổ chức, cá nhân không phải kê khai, cấp phép khai thác tài nguyên nước trong những trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 52 Luật Tài nguyên nước 2023 như sau:
(1) Khai thác nước cho các hoạt động văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phòng cháy, chữa cháy, phục vụ mục đích quốc phòng và an ninh, tưới cây và rửa đường phục vụ mục đích công cộng;
(2) Khai thác nước mặt quy mô nhỏ để sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản;
(3) Khai thác nước mặt quy mô nhỏ để sử dụng cho các mục đích ngoài mục đích quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 52 Luật Tài nguyên nước 2023 và điểm đ khoản 5 Điều 52 Luật Tài nguyên nước 2023;
(4) Khai thác nước cho sinh hoạt tại các khu vực trong thời gian xảy ra hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, sự cố ô nhiễm, dịch bệnh do cấp có thẩm quyền công bố theo quy định của pháp luật;
(5) Khai thác nước biển để sử dụng cho sản xuất muối;
(6) Khai thác nước biển phục vụ các hoạt động trên biển;
(7) Khai thác nước biển quy mô nhỏ để sử dụng cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nuôi trồng thủy sản trên đảo, đất liền;
(8) Sử dụng mặt nước sông, suối, kênh, mương, rạch, hồ chứa để nuôi trồng thủy sản, kinh doanh, dịch vụ quy mô nhỏ;
(9) Đào hồ, ao, kênh, mương, rạch quy mô nhỏ để tạo không gian thu, trữ nước, dẫn nước, tạo cảnh quan;
(10) Hoạt động sử dụng mặt nước trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi thực hiện theo quy định của pháp luật về thủy lợi.
(11) Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];