Quy định hiện hành về tính tiền thừa giờ cho giáo viên có thời gian nghỉ thai sản?
Theo khoản 7 Điều 3 Thông tư liên tịch 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC có nêu rõ như sau:
Nguyên tắc tính trả tiền lương dạy thêm giờ
...
7. Thời gian không trực tiếp tham gia giảng dạy nhưng được tính hoàn thành đủ số giờ giảng dạy và được tính vào giờ dạy quy đổi, bao gồm: thời gian nghỉ ốm, nghỉ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian đi làm nhiệm vụ khác do cấp có thẩm quyền phân công, điều động.
..."
Theo nguyên tắc trên, thời gian nghỉ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội dù giáo viên không trực tiếp tham gia giảng dạy nhưng được tính hoàn thành đủ số giờ giảng dạy và được tính vào giờ dạy quy đổi.
Vì thế, trước khi nghỉ thai sản giáo viên đã dạy thừa giờ, sau đó nghỉ thai sản thì định mức tiết dạy để tính thừa giờ có tính thời gian giáo viên nghỉ thai sản và dù giáo viên không trực tiếp tham gia giảng dạy nhưng được tính hoàn thành đủ số giờ giảng dạy và được tính vào giờ dạy quy đổi.

Quy định hiện hành về tính tiền thừa giờ cho giáo viên có thời gian nghỉ thai sản? Công thức tính tiền thừa giờ?
Công thức tính tiền thừa giờ của giáo viên theo quy định hiện hành?
Cách tính tiền lương dạy thêm giờ 01 giờ dạy thực hiện theo điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC, theo đó:
Đối với giáo viên cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trường trung cấp chuyên nghiệp và giáo viên, giảng viên cơ sở dạy nghề:

Đối với nhà giáo làm công tác quản lý hoặc được phân công làm nhiệm vụ tổng phụ trách Đội, cán bộ Đoàn, Hội ở cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trường trung cấp chuyên nghiệp và cơ sở dạy nghề được tính theo công thức nêu trên, trong đó định mức giờ dạy/năm là định mức giờ dạy/năm của giáo viên cùng bậc học, cấp học, bộ môn của cơ sở giáo dục đó;
Đối với giảng viên cơ sở giáo dục đại học, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

Đối với nhà giáo làm công tác quản lý, cán bộ Đoàn, Hội tham gia giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được tính theo công thức nêu trên, trong đó định mức giờ dạy/năm là định mức giờ dạy/năm của giảng viên cùng chức danh, bộ môn của cơ sở giáo dục đó.
Định mức giờ dạy trên một năm của giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông tính thế nào?
Theo điểm đ khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC:
Định mức giờ dạy/năm được tính theo quy định tại các văn bản quy định tại khoản 1 Điều 2 của Thông tư liên tịch 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC. Cụ thể như sau:
- Định mức giờ dạy/năm của giáo viên phổ thông = [Định mức tiết dạy (tiêu chuẩn giờ giảng)/tuần] x (Số tuần dành cho giảng dạy và các hoạt động giáo dục/năm học);
- Định mức giờ dạy/năm của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng; giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (gọi tắt là Tổng phụ trách); giáo viên là cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (gọi tắt là cán bộ Đoàn, Hội) ở cơ sở giáo dục phổ thông = (Định mức tiết dạy/tuần của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng; giáo viên làm Tổng phụ trách; cán bộ Đoàn, Hội) x (Số tuần dành cho giảng dạy và các hoạt động giáo dục/năm học).
Định mức tiết dạy đối với giáo viên xác định theo Điều 7 Thông tư 05/2025/TT-BGDĐT,
Trong đó, điểm a khoản 3 Điều 7 Thông tư 05/2025/TT-BGDĐT có quy định: Định mức tiết dạy trung bình trong 01 tuần: Giáo viên trường tiểu học là 23 tiết, giáo viên trường trung học cơ sở là 19 tiết, giáo viên trường trung học phổ thông là 17 tiết.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 7 Thông tư 05/2025/TT-BGDĐT có quy định:
Định mức tiết dạy trong 01 năm học được xác định như sau:
Định mức tiết dạy trong 01 năm học | = | Định mức tiết dạy trung bình trong 01 tuần | x | Số tuần giảng dạy |
Trong đó, số tuần giảng dạy là số tuần giảng dạy các nội dung giáo dục trong chương trình giáo dục (không bao gồm số tuần dự phòng).
Định mức giờ dạy trên một năm của giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông được xác định theo các căn cứ trên.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];