Công văn 8996/BNNMT-TNN triển khai Nghị định 290 xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực tài nguyên nước ra sao?
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có Công văn 8996/BNNMT-TNN năm 2025 về triển khai thực hiện Nghị định 290/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.
Tải về Công văn 8996/BNNMT-TNN năm 2025.
Theo đó, để triển khai Nghị định 290/2025/NĐ-CP Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị tập trung thực hiện một số nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý nhà nước về tài nguyên nước sau đây:
(1) Chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành, xã nghiên cứu, quán triệt và tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông hoặc các hình thức phù hợp khác để bảo đảm thực hiện đầy đủ, chính xác các quy định của Nghị định 290/2025/NĐ-CP.
Trong đó, lưu ý một số nội dung mới so với Nghị định 36/2020/NĐ-CP, cụ thể:
- Số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước được quy định chi tiết hơn về cách tính (khoản 4 Điều 4 Nghị định 290/2025/NĐ-CP)
- Một số quy định cụ thể hơn để xác định hành vi vi phạm tránh sự hiểu khác nhau về pháp luật được quy định:
+ Điều 6 Nghị định 290/2025/NĐ-CP quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, các hành vi vi phạm đã kết thúc, các hành vi vi phạm đang thực hiện trong lĩnh vực tài nguyên nước;
+ Điều 7 Nghị định 290/2025/NĐ-CP quy định về nguyên tắc xác định hành vi vi phạm;
- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả tại Chương III Nghị định 290/2025/NĐ-CP và một số quy định cụ thể khác.
(2) Tiếp tục rà soát, đôn đốc các tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác tài nguyên nước và hành nghề khoan nước dưới đất thuộc trường hợp phải đăng ký, cấp giấy phép nhưng chưa đăng ký, cấp giấy phép hoặc phải kê khai, điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước nhưng chưa kê khai, điều chỉnh tiền cấp quyền khẩn trương thực hiện đăng ký khai thác tài nguyên nước, nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép, hồ sơ tính tiền cấp quyền tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.
(3) Tổ chức thanh tra, kiểm tra, trường hợp phát hiện có vi phạm thì thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với các công trình đã khai thác tài nguyên nước nhưng chưa có giấy phép, hoặc đã có giấy phép nhưng khai thác vượt quá lưu lượng, lắp máy vượt quá công suất (đối với khai thác nước mặt cho thủy điện) được cấp phép, cần áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Việc tính toán số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định 290/2025/NĐ-CP. Trong quá trình triển khai thực hiện hiện Nghị định 290/2025/NĐ-CP, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị UBND tỉnh, thành phố phản ánh về Bộ Nông nghiệp và Môi trường để xem xét, hướng dẫn.
Lưu ý: Nghị định 290/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 25/12/2025.
*Trên đây là "Công văn 8996/BNNMT-TNN triển khai Nghị định 290 xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực tài nguyên nước"

Công văn 8996/BNNMT-TNN triển khai Nghị định 290 xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực tài nguyên nước ra sao? (Hình từ Internet)
Chính sách của Nhà nước về tài nguyên nước ra sao?
Theo Điều 4 Luật Tài nguyên nước 2023, chính sách của Nhà nước về tài nguyên nước như sau:
(1) Hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa công tác quản lý tài nguyên nước hướng tới quản trị tài nguyên nước quốc gia trên nền tảng công nghệ số thông qua Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, hệ thống công cụ hỗ trợ ra quyết định, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực trong công tác quản lý tài nguyên nước.
(2) Ưu tiên đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác nguồn nước, tích trữ nước, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư khai thác nước cấp cho sinh hoạt, sản xuất cho người dân ở các vùng khan hiếm nước ngọt, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tạo điều kiện tiếp cận nước sinh hoạt cho người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và các đối tượng dễ bị tổn thương khác.
(3) Ưu tiên đầu tư xây dựng mạng quan trắc, giám sát tài nguyên nước, Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, nâng cao khả năng dự báo tài nguyên nước, lũ, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng và các tác hại khác do nước gây ra.
(4) Khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước; bảo vệ, phát triển nguồn nước, nguồn sinh thủy; tích trữ nước và phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; điều hòa, phân phối tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra.
(5) Khuyến khích tổ chức, cá nhân xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn, nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến để quản lý, bảo vệ, phục hồi, phát triển nguồn nước; khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, sử dụng nước tuần hoàn, tái sử dụng nước; xử lý nước biển thành nước ngọt; thu gom, sử dụng nước mưa, bổ sung nhân tạo nước dưới đất; phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra.
(6) Mở rộng, tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế về tài nguyên nước.
Yêu cầu về quản lý, lưu trữ, trao đổi và chia sẻ dữ liệu tài nguyên nước quốc gia theo Thông tư 64/2025/TT-BNNMT
Yêu cầu về quản lý, lưu trữ, trao đổi và chia sẻ dữ liệu tài nguyên nước quốc gia theo Điều 10 Thông tư 64/2025/TT-BNNMT như sau:
(1) Dữ liệu trong cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, thống nhất, toàn vẹn, có khả năng tích hợp, chia sẻ, truy xuất và phục hồi khi có sự cố.
(2) Về quản lý và lưu trữ dữ liệu:
- Dữ liệu phải được tổ chức khoa học, có hệ thống, đi kèm siêu dữ liệu đầy đủ để phục vụ tìm kiếm, tra cứu, khai thác hiệu quả;
- Dữ liệu phải được quản lý theo mô hình cấu trúc dữ liệu quy định, bảo đảm tính nhất quán, bảo mật, khả năng truy vấn và tối ưu hóa lưu trữ, truy xuất.
(3) Về định dạng dữ liệu trong lưu trữ, quản lý, trao đổi và chia sẻ:
- Dữ liệu trong hệ quản trị cơ sở dữ liệu phải tuân thủ kiểu dữ liệu và cấu trúc quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 64/2025/TT-BNNMT. Trường hợp chưa quy định hoặc dữ liệu có đặc thù riêng, ưu tiên sử dụng các kiểu dữ liệu chuẩn, phổ biến, bảo đảm tối ưu hóa lưu trữ và khả năng tương thích. Đối với dữ liệu không gian, phải tuân thủ các tiêu chuẩn hình học (Point, LineString, Polygon,...) theo quy định của pháp luật chuyên ngành và tiêu chuẩn quốc tế;
- Dữ liệu ở dạng tệp phải sử dụng các định dạng tệp mở, phổ biến và được công nhận rộng rãi, như: XML, GML, JSON, GeoJSON, CSV, Shapefile, GeoTIFF, PDF và các định dạng tương đương;
- Việc lựa chọn định dạng dữ liệu để trao đổi, chia sẻ phải bảo đảm khả năng tương thích, chuyển đổi giữa các hệ thống, phù hợp với đặc thù dữ liệu và mục tiêu sử dụng.
(4) Việc chia sẻ dữ liệu phải thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch, có kiểm soát và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân và quyền sở hữu trí tuệ.
(5) Việc thu thập, cập nhật, khai thác và sử dụng dữ liệu phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tài nguyên nước, công nghệ thông tin và các quy định pháp luật liên quan.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];