Công dân Việt Nam có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân từ bao nhiêu tuổi trở lên?

08:21 | 13/09/2025
Công dân Việt Nam có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân từ bao nhiêu tuổi trở lên?
Nội dung chính
  1. Công dân Việt Nam có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân từ bao nhiêu tuổi?
  2. Khi nào Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương?
  3. Xóa tên người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong trường hợp nào?

Công dân Việt Nam có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân từ bao nhiêu tuổi?

Căn cứ theo quy định tại Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 có nêu rõ như sau:

Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử
Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.

Theo đó, công dân Việt Nam có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân từ đủ 21 tuổi trở lên.

Lưu ý: tuổi ứng cử tính đến ngày bầu cử được công bố

Trên đây là thông tin công dân Việt Nam có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân từ bao nhiêu tuổi?

Công dân Việt Nam có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân từ bao nhiêu tuổi trở lên?

Công dân Việt Nam có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân từ bao nhiêu tuổi trở lên? (Hình từ Internet)

Khi nào Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương?

Căn cứ theo Điều 57 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 (có cụm từ bị thay thế bởi điểm c, i, k khoản 23 Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sửa đổi 2025) có nêu rõ như sau:

Danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội
1. Chậm nhất là 21 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia biên bản hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử được Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội.
2. Chậm nhất là 21 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương.
3. Căn cứ vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội được Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng bầu cử quốc gia gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh danh sách và hồ sơ những người được giới thiệu về ứng cử tại địa phương.
4. Hội đồng bầu cử quốc gia lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách do Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban bầu cử ở tỉnh gửi đến chậm nhất là 17 ngày trước ngày bầu cử.
5. Danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, chức vụ, nơi công tác của người ứng cử. Danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử được xếp theo vần chữ cái A, B, C...
Người ứng cử đại biểu Quốc hội chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở một đơn vị bầu cử.
6. Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó ít nhất là hai người. Trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định.
7. Chậm nhất là 16 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương mình theo quyết định, của Hội đồng bầu cử quốc gia.

Theo đó, chậm nhất là 16 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương mình theo quyết định, của Hội đồng bầu cử quốc gia.

Xóa tên người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong trường hợp nào?

Căn cứ theo Điều 60 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 có nêu rõ xóa tên người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân như sau:

Xóa tên người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Người có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội đã được Hội đồng bầu cử quốc gia công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố bị can, bị bắt, giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự, chết hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Hội đồng bầu cử quốc gia xóa tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.
2. Người có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đã được Ủy ban bầu cử công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố bị can, bị bắt, giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự, chết hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Ủy ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, quyết định xóa tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Theo đó, xóa tên người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong các trường hợp trên.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Quyền dân sự Xem thêm

Pháp luật
Quyết định 1960/QĐ-TTg về thực hiện chính sách an sinh xã hội hỗ trợ người yếu thế có nội dung nào?

Nội dung Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tộ Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế được Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định 1960/QĐ-TTg năm 2026 cụ thể như sau:

Pháp luật
Không nhận quyết định gọi sơ tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự 2027 thì có bị xử phạt không? Quy định cụ thể ra sao?

Công dân phải có trách nhiệm nhận quyết định gọi sơ tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự, để nắm thông tin về thời gian, địa điểm thực hiện khám nghĩa vụ quân sự. Nếu như công dân không nhận quyết định gọi sơ tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự có thể bị xử phạt.

Bài viết mới nhất