Từ 1/7, Gà lôi trắng được chuyển danh mục các loài động vật rừng nguy cấp quý hiếm từ IB sang IIB đúng không?
Từ 1/7, Gà lôi trắng được chuyển danh mục các loài động vật rừng nguy cấp quý hiếm từ IB sang IIB đúng không thì theo Danh mục Thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP quy định như sau:

Theo đó, Gà lôi trắng loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc Nhóm IB loài nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại.
Bên cạnh đó, căn cứ Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 27/2025/TT-BNNMT (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2025) quy định về Danh mục các loài, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm như sau:

Theo đó, từ sau ngày 01/7/2025, cá thể Gà lôi trắng không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Gà lôi trắng thuộc Nhóm IIB trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, là loài hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại.
Như vậy, từ 1/7/2025, Gà lôi trắng được chuyển danh mục các loài, động vật rừng nguy cấp quý hiếm từ IB sang IIB.

Gà lôi trắng được chuyển danh mục động vật rừng nguy cấp quý hiếm từ IB sang IIB từ 1/7 đúng không? (Hình từ Internet)
Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm như thế nào?
Căn cứ theo Điều 5 Nghị định 06/2019/NĐ-CP hướng dẫn bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm như sau:
- Hoạt động săn, bắn, bắt, khai thác, nuôi, nhốt, giết, tàng trữ, chế biến, vận chuyển, buôn bán các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm không được ảnh hưởng tiêu cực đến sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển của loài đó trong tự nhiên.
- Mọi hoạt động săn, bắn, bắt, khai thác, nuôi, nhốt, giết, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, chế biến, quảng cáo, trưng bày, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải được quản lý, đảm bảo nguồn gốc hợp pháp.
- Khu vực sinh cảnh sống thường xuyên, tập trung của các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được nghiên cứu làm cơ sở để thành lập các khu rừng đặc dụng.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất, xây dựng công trình, điều tra, thăm dò, nghiên cứu, tham quan, du lịch và các hoạt động khác trong các diện tích rừng có thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải thực hiện các quy định và quy định pháp luật khác có liên quan.
Chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học thế nào?
Theo Điều 5 Luật Đa dạng sinh học 2008 quy định chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học như sau:
- Ưu tiên bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái, bảo tồn loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; bảo đảm kiểm soát việc tiếp cận nguồn gen.
- Bảo đảm kinh phí cho hoạt động điều tra cơ bản, quan trắc, thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học và quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học; đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật cho khu bảo tồn, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học của Nhà nước; bảo đảm sự tham gia của nhân dân địa phương trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học.
- Khuyến khích và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đầu tư, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tri thức truyền thống vào việc bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học.
- Phát triển du lịch sinh thái gắn với việc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm ổn định cuộc sống của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn; phát triển bền vững vùng đệm của khu bảo tồn.
- Phát huy nguồn lực trong nước, ngoài nước để bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học.
Lưu ý: Căn cứ Điều 4 Luật Đa dạng sinh học 2008 quy định nguyên tắc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học như sau:
- Bảo tồn đa dạng sinh học là trách nhiệm của Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân.
- Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học; giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học với việc xóa đói, giảm nghèo.
- Bảo tồn tại chỗ là chính, kết hợp bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển chỗ.
- Tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng đa dạng sinh học phải chia sẻ lợi ích với các bên có liên quan; bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân.
- Bảo đảm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];