Đội công tác tuyên truyền đặc biệt quy định ra sao tại NĐ 190 2026? Đội công tác tuyên truyền đặc biệt có nhiệm vụ gì?

21:09 | 19/08/2026
Bài viết cung cấp quy định về việc thành lập, nhiệm vụ của Đội công tác tuyên truyền đặc biệt theo Nghị định 190/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 13/7/2026.
Nội dung chính
  1. Đội công tác tuyên truyền đặc biệt quy định ra sao tại NĐ 190 2026? Đội công tác tuyên truyền đặc biệt có nhiệm vụ gì?
  2. Đội công tác tuyên truyền đặc biệt thành lập từ lực lượng nồng cốt phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp đúng không?
  3. Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp từ 1/7/2026 gồm những nguyên tắc gì?

Đội công tác tuyên truyền đặc biệt quy định ra sao tại NĐ 190 2026? Đội công tác tuyên truyền đặc biệt có nhiệm vụ gì?

Căn cứ theo quy định tại Điều 9 Nghị định 190/2026/NĐ-CP có quy định về đội công tác tuyên truyền đặc biệt hiện nay như sau:

(1) Căn cứ tình hình thực tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Đội công tác tuyên truyền đặc biệt từ lực lượng thuộc quyền; Đội công tác tuyên truyền đặc biệt tự giải thể khi tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ.

(2) Nhiệm vụ của Đội công tác tuyên truyền đặc biệt

- Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân tuân thủ Lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp; các biện pháp áp dụng của cấp có thẩm quyền tại địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp;

- Nắm tình hình trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp, thông tin chính xác, chống tin giả, góp phần ổn định xã hội; thông tin chỉ đạo, chỉ huy, điều hành của cấp có thẩm quyền đến người dân;

- Phối hợp với các lực lượng khác triển khai thi hành Lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự chỉ đạo, chỉ huy, điều hành của cấp có thẩm quyền;

- Phối hợp với các cơ quan thông tin, truyền thông và chính quyền địa phương để cung cấp các thông tin chính thống, kịp thời, chính xác cho Nhân dân; định hướng dư luận, đấu tranh phản bác các thông tin sai sự thật, xuyên tạc gây hoang mang trong dư luận xã hội;

- Vận động Nhân dân chấp hành việc sơ tán, giãn cách, phong tỏa, cứu trợ, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp; tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng phòng chống, ứng phó, tự bảo vệ cho Nhân dân trước thảm họa.

Đội công tác tuyên truyền đặc biệt quy định ra sao tại NĐ 190 2026? Đội công tác tuyên truyền đặc biệt có nhiệm vụ gì?

Đội công tác tuyên truyền đặc biệt quy định ra sao tại NĐ 190 2026? Đội công tác tuyên truyền đặc biệt có nhiệm vụ gì? (hình từ Internet)

Đội công tác tuyên truyền đặc biệt thành lập từ lực lượng nồng cốt phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp đúng không?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Tình trạng khẩn cấp 2025 có quy định về lực lượng phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp chi tiết như sau:

Lực lượng phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp
1. Lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Lực lượng nòng cốt;
b) Lực lượng rộng rãi.
2. Lực lượng nòng cốt gồm lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; lực lượng của các Bộ, ngành và địa phương.
Đội ứng phó khẩn cấp, Đội công tác tuyên truyền đặc biệt, Đội tuần tra đặc biệt được thành lập từ lực lượng nòng cốt.
3. Lực lượng rộng rãi do toàn dân tham gia.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Theo đó, đội công tác tuyên truyền đặc biệt được thành lập từ lực lượng nồng cốt trong hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp theo đúng quy định pháp luật.

Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp từ 1/7/2026 gồm những nguyên tắc gì?

Căn cứ theo quy định tại Điều 3 Luật Tình trạng khẩn cấp 2025 có quy định chi tiết về nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp từ 1/7/2026 bao gồm:

- Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.

- Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, tính mạng, sức khỏe của người dân; huy động sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và sự tham gia của Nhân dân trong phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả của tình trạng khẩn cấp.

- Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, có sự phân công, phân cấp, phân quyền, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và lực lượng trong tình trạng khẩn cấp; xác định trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện.

- Việc áp dụng, điều chỉnh, chấm dứt các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp phải bảo đảm kịp thời, công khai, minh bạch; các biện pháp làm hạn chế quyền con người, quyền công dân phải thật sự cần thiết, có căn cứ rõ ràng, tương xứng với tính chất, mức độ sự cố, thảm họa và không phân biệt đối xử.

- Việc quyết định các biện pháp nhằm ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp gây ra thiệt hại thì người ra quyết định không phải chịu trách nhiệm khi quyết định đó dựa trên thông tin có được tại thời điểm ra quyết định, đúng thẩm quyền và không có động cơ vụ lợi.

- Hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp phải được chuẩn bị từ sớm, từ xa; chủ động xây dựng lực lượng, trang bị phương tiện, thực hiện phương châm bốn tại chỗ kết hợp với hỗ trợ của Trung ương, địa phương và cộng đồng quốc tế; chủ động cảnh báo, dự báo, đánh giá nguy cơ xảy ra tình trạng khẩn cấp.

>>> Lực lượng phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp gồm những lực lượng nào? Chi tiết lực lượng này tại NĐ 190 ra sao?

Logo Thư viện Pháp luật
Cao Nguyên Phát Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Pháp luật
Cơ sở lưu trú cần chủ động khai báo tạm trú cho người nước ngoài

(Chinhphu.vn) - Việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn. Các cơ sở lưu trú cần chủ động xác định người có trách nhiệm khai báo, nhất là khi việc cho thuê được thực hiện qua trung gian.

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Cơ sở lưu trú cần chủ động khai báo tạm trú cho người nước ngoài

(Chinhphu.vn) - Việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn. Các cơ sở lưu trú cần chủ động xác định người có trách nhiệm khai báo, nhất là khi việc cho thuê được thực hiện qua trung gian.