Điều kiện rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo theo quy định mới nhất là gì?
Hiện nay, theo khoản 1 Điều 84 Luật Thi hành án hình sự 2025 thì điều kiện rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo như sau:
- Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách;
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo vệ an ninh, trật tự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng;
- Có đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách án treo.
Như vậy, người được hưởng án treo phải đồng thời đáp ứng đủ cả 3 điều kiện nêu trên thì mới được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách.
Theo đó, người được hưởng án treo chỉ được xét rút ngắn thời gian thử thách mỗi năm 01 lần, thời gian rút ngắn mỗi lần từ 01 tháng đến 01 năm.
Trường hợp thời gian thử thách còn lại không quá 01 tháng thì có thể lượt rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành ba phần tư thời gian thử thách.
>>XEM THÊM: Án treo là gì? Án treo có phải là hình phạt không?
>>XEM THÊM: Căn cứ để được hưởng án treo là gì?

Điều kiện rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo theo quy định mới nhất là gì? (Hình từ Internet)
Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo ra sao?
Theo khoản 4 Điều 85 Luật Thi hành án hình sự 2025 thì hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo gồm những giấy tờ như sau:
- Văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
- Đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo;
- Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét rút ngắn thời gian thử thách từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án treo;
- Báo cáo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;
- Trường hợp người được hưởng án treo được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; trường hợp người được hưởng án treo bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận hoặc xác nhận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên;
- Trường hợp người được hưởng án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có bản sao quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
Theo đó, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú, làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét rút ngắn thời gian thử thách.
Sau khi được phân công thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, Thẩm phán phải mở phiên họp và ra quyết định về việc rút ngắn thời gian thử thách; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo.
Thời gian thử thách của người được hưởng án treo phải được ghi rõ trong quyết định thi hành án treo đúng không?
Căn cứ Điều 79 Luật Thi hành sán hình sự 2025 quy định như sau:
Quyết định thi hành án treo
1. Quyết định thi hành án treo phải ghi rõ họ tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được hưởng án treo; mức hình phạt tù và thời gian thử thách của người được hưởng án treo; hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án treo, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được hưởng án treo và người đại diện trong trường hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hưởng án treo làm việc;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
Như vậy, thời gian thử thách của người được hưởng án treo phải được ghi rõ trong quyết định thi hành án treo.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];