Điểm mới về thu nhập từ tiền lương tiền công của Nghị định 253/2026/NĐ-CP được nêu tại Công văn 2231/CST-TN năm 2026 ra sao?
Công văn 2231/CST-TN năm 2026 giới thiệu Nghị định 253/2026/NĐ-CP và Thông tư 87/2026/TT-BTC do Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí ban hành ngày 31/07/2026
Theo đó, tại tiểu mục 1.3 Mục 1 Phụ lục ban hành kèm Công văn 2231/CST-TN năm 2026 có giới thiệu điểm mới về thu nhập từ tiền lương tiền công của Nghị định 253/2026/NĐ-CP như sau:
(1) Sửa đổi, bổ sung quy định về tiền thù lao từ cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế.
Tại điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định: “Tiền thù lao nhận được từ cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề; ” được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công.
(2) Bổ sung quy định cụ thể về mức tiền ăn giữa ca, ăn trưa không tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Tại điểm g khoản 2 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định: “Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng. Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân; ” Đồng thời, để đảm bảo không vướng mắc trong thực hiện, tại điểm b khoản 1 Điều 69 của Nghị định cũng đã quy định về tiền ăn giữa ca, tiền ăn trưa quy định tại điểm g khoản 2 Điều 8 được áp dụng từ ngày 01/7/2026.
(3) Sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến khoản lợi ích về nhà ở do người sử dụng lao động xây cho người lao động.
Để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở, nhà lưu trú công nhân, cung cấp chỗ ở ổn định, lâu dài cho người lao động theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tại điểm h khoản 2 Điều 8 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN trong trường hợp người lao động được hưởng lợi ích từ nhà ở do người sử dụng lao động xây cho người lao động đang làm việc tại đơn vị, bao gồm cả tiền điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có).
Theo đó, so với quy định tại các VBQPPL về thuế TNCN trước đây, tại Nghị định số 253/2026/NĐ-CP không giới hạn phạm vi của quy định này là chỉ áp dụng đối với nhà ở do người sử dụng lao động xây ở địa bàn khu kinh tế, khu công nghiệp, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.
Đồng thời, tại Nghị định số 253/2026/NĐ-CP cũng đã quy định rõ trường hợp người sử dụng lao động trả thay khoản tiền thuê nhà, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) thì tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế trả thay. Tuy nhiên, để hỗ trợ cho người lao động tại Nghị định tiếp tục kế thừa quy định hiện hành là mức tính vào thu nhập chịu thuế đối với khoản này tối đa không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh tại đơn vị.
(4) Sửa đổi, bổ sung quy định về các khoản thưởng từ cuộc thi, sự kiện do người sử dụng lao động tổ chức cho người lao động.
Tại điểm i khoản 2 Điều 8 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định khoản thưởng từ cuộc thi, sự kiện do người sử dụng lao động tổ chức cho người lao động là khoản thu nhập được tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động.
(5) Bổ sung khoản “bồi dưỡng bằng hiện vật” vào nhóm phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế.
Tại điểm d khoản 3 Điều 8 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định các khoản phụ cấp độc hại, nguy hiểm và bồi dưỡng bằng hiện vật đối với ngành, nghề hoặc công việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm được loại trừ khỏi thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.
(6) Bổ sung quy định không tính vào thu nhập chịu thuế khoản phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí của thành viên cơ quan Việt Nam ở nước ngoài và thân nhân đi theo.
Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15, tại điểm e khoản 3 Điều 8 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định không tính vào thu nhập chịu thuế đối với các khoản phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả cho thành viên cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, phu nhân/phu quân và con đi theo.
(7) Sửa đổi, bổ sung quy định về không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công đối với khoản trợ cấp thôi việc, mất việc.
Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15, tại điểm h khoản 3 Điều 8 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, tại Nghị định cũng đã quy định trường hợp doanh nghiệp có quy định cụ thể tại nội quy, quy chế, thỏa ước lao động tập thể hoặc hợp đồng lao động về mức trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cao hơn quy định của Bộ luật Lao động thì phần vượt mức này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân. Qua đó, đảm bảo người nộp thuế nhận được sự hỗ trợ lớn hơn, thể hiện sự chia sẻ giữa Nhà nước và người lao động trong trường hợp thôi việc, mất việc làm.
(8) Bổ sung quy định không tính vào thu nhập chịu thuế đối với khoản thu nhập từ nguồn tài chính công đoàn không mang tính chất tiền lương, tiền công và các khoản tiền chế độ dinh dưỡng, chế độ đặc thù chăm sóc bảo đảm sức khỏe và sinh lý phụ nữ đối với thành viên đội thể thao.
Tại điểm n và điểm o khoản 4 Điều 8 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân đối với: các khoản tiền và lợi ích nhận được từ nguồn tài chính công đoàn không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Luật Công đoàn; các khoản tiền chế độ dinh dưỡng, chế độ đặc thù chăm sóc bảo đảm sức khỏe và sinh lý phụ nữ theo quy định tại Điều 5 và Điều 8 của Nghị định số 349/2025/NĐ-CP quy định chế độ, chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu.
(9) Sửa đổi, bổ sung quy định về các khoản bảo hiểm được trừ và nâng ngưỡng được trừ lên 03 triệu đồng/tháng/người đối với bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ.
Tại điểm a khoản 2 Điều 46 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế được trừ các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội, khoản đóng góp bảo hiểm y tế tự nguyện theo Luật Bảo hiểm y tế, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ khi xác định thu nhập tính thuế. So với quy định trước đây, nội dung này có chỉnh sửa một số câu chữ để đảm bảo đồng bộ, thống nhất với quy định của pháp luật chuyên ngành được sửa đổi, bổ sung gần đây.
Đồng thời, tại điểm này cũng đã quy định mức đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ được trừ ra khỏi thu nhập khi xác định thu nhập tính thuế tổng tối đa không quá 03 triệu đồng/tháng cho các hình thức tham gia bảo hiểm này, bao gồm cả số tiền do người sử dụng lao động đóng cho người lao động và cả số tiền do người lao động tự đóng (nếu có). Như vậy, so với trước đây mức ngưỡng được trừ đã được nâng từ 01 triệu đồng/tháng/người lên 03 triệu đồng/tháng/người.
(10) Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn đăng ký người phụ thuộc.
Tại điểm a khoản 2 Điều 48 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định thời hạn đăng ký người phụ thuộc cùng hồ sơ chứng minh là trước ngày 31/12 của năm tính thuế và thực hiện ổn định cho các năm sau nếu không thay đổi.
(11) Bổ sung quy định liên quan đến khoản giảm trừ cho chi phí y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc người nộp thuế.
Căn cứ khoản 2 Điều 11 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15, tại khoản 2 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế được giảm trừ cho bản thân và người phụ thuộc của người nộp thuế khi tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm và các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm (khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục, đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo).
Đồng thời, tại khoản 3 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện liên quan đến các khoản chi phí về y tế, giáo dục - đào tạo, mà người nộp thuế được giảm trừ, cụ thể:
- Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
- Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế;
- Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
Ngoài ra, để tránh việc giảm trừ trùng, tại khoản 4 Điều 49 cũng đã quy định: Trường hợp người nộp thuế áp dụng giảm thuế đối với các khoản chi cho y tế tại Điều 40 hoặc phát sinh các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo tại các điểm b, g và i khoản 4 Điều 8 thì các khoản chi này không tính vào các khoản giảm trừ cho y tế, giáo dục - đào tạo quy định tại khoản 2 Điều 49.
(12) Điều chỉnh mức thu nhập làm căn cứ tạm khấu trừ 10% đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động dưới 03 tháng.
Nghị định số 253/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh tăng giới hạn mức chi trả thu nhập để làm căn cứ tạm khấu trừ thuế từ 2 triệu đồng/lần lên mức 5 triệu đồng/lần. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 50 Nghị định này quy định: Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 5 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế, khai và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.
Ngoài ra, tại Điều này còn có quy định trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 5 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nếu cá nhân có yêu cầu.
(13) Sửa đổi, bổ sung quy định về thuế TNCN trong trường hợp người lao động được thưởng bằng cổ phiếu hoặc mua cổ phiếu với giá ưu đãi theo kế hoạch phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP).
Tại điểm a khoản 3 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP kế thừa quy định trước đây là trong trường hợp người lao động được thưởng bằng cổ phiếu thì chưa phải tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công khi nhận cổ phiếu, khi nhận được thu nhập từ chuyển nhượng số cổ phiếu này, cá nhân mới phải nộp thuế. Căn cứ xác định thu nhập chịu thuế của cổ phiếu thưởng quy định tại điểm này là số tiền chi cho người lao động ghi trên sổ sách kế toán của tổ chức trả thu nhập tại thời điểm thưởng.
Trường hợp không xác định được số tiền chi cho người lao động ghi trên sổ sách kế toán của tổ chức trả thu nhập thì thu nhập chịu thuế được xác định bằng số lượng cổ phiếu thực nhận nhân (x) với mệnh giá; nếu giá chuyển nhượng cổ phiếu thấp hơn mệnh giá thì thuế TNCN đối với thu nhập từ cổ phiếu được thưởng tính theo giá thị trường tại thời điểm chuyển nhượng.
Ngoài ra, để bao quát được thực tiễn phát sinh, tại Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định tương tự đối với trường hợp người lao động được mua cổ phiếu với giá ưu đãi theo kế hoạch phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP). Căn cứ xác định thu nhập chịu thuế của cổ phiếu ESOP là số tiền chi cho người lao động ghi trên sổ sách kế toán của tổ chức trả thu nhập tại thời điểm phát hành cổ phiếu ESOP.
Trường hợp không xác định được số tiền chi cho người lao động ghi trên sổ sách kế toán của tổ chức trả thu nhập thì thu nhập chịu thuế được xác định bằng số lượng cổ phiếu thực nhận nhân (x) với mệnh giá trừ đi số tiền người lao động đã bỏ ra để mua cổ phiếu ESOP, nếu phát sinh chênh lệch âm thì cá nhân không phải nộp thuế TNCN từ tiền lương, tiền công đối với cổ phiếu ESOP.
(14) Điều chỉnh ngưỡng thu nhập vãng lai không phải quyết toán.
Tại điểm b khoản 1 Điều 51 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng (mức trước đây là 10 triệu đồng) đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện tạm khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên thu nhập quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định này và cá nhân không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Ngoài ra, tại Nghị định số 253/2026/NĐ-CP cũng quy định trường hợp cá nhân quyết toán trực tiếp, hệ thống quản lý thuế hỗ trợ tổng hợp các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm và số thuế đã khấu trừ.

Điểm mới về thu nhập từ tiền lương tiền công của Nghị định 253/2026/NĐ-CP được nêu tại Công văn 2231/CST-TN năm 2026 ra sao? (Hình từ Internet)
Quy định về miễn thuế TNCN đối với tiền lương tiền công ra sao?
Căn cứ Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định như sau:
- Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.
Tổ chức, doanh nghiệp trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc, khoản tiền lương làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động.
Bảng kê này được lưu tại tổ chức, doanh nghiệp trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế. Trường hợp không lập bảng kê riêng, tổ chức trả thu nhập có trách nhiệm chứng minh khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc thông qua bảng lương, bảng chấm công, hợp đồng lao động và các tài liệu hợp pháp khác.
- Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định tại khoản 3 Điều 113 của Bộ luật Lao động 2019 và quy định của Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức.
- Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Giảm trừ gia cảnh đối với thu nhập từ tiền lương tiền công được quy định như thế nào?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 thì giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú.
Giảm trừ gia cảnh gồm:
- Mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
- Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];