Chồng có phải trả số nợ do người vợ lừa đảo không? Trả bằng tài sản riêng của vợ hay tài sản chung?

Nguyễn Anh Hương Thảo 1,497 lượt xem
17:11 | 21/03/2024
Cho mình hỏi, chồng có phải trả số nợ do người vợ lừa đảo không? Nếu trả, thì trả bằng tài sản riêng của vợ hay tài sản chung? Chồng có quyền đơn phương ly hôn khi vợ lừa đảo làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình không? Thắc mắc đến từ bạn H.L ở Bình Phước.
Nội dung chính
  1. Chồng có phải trả số nợ do người vợ lừa đảo không? Trả bằng tài sản riêng của vợ hay tài sản chung?
  2. Chồng có quyền đơn phương ly hôn khi vợ lừa đảo làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình không?
  3. Thời điểm chấm dứt hôn nhân là khi nào trong trường hợp chồng đơn phương ly hôn vì vợ lừa đảo làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình?

Chồng có phải trả số nợ do người vợ lừa đảo không? Trả bằng tài sản riêng của vợ hay tài sản chung?

Chồng có phải trả số nợ do người vợ lừa đảo không theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Đồng thời, tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau: :

Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Theo như quy định trên, trường hợp người vợ đi lừa đảo và người chồng biết được việc lừa đảo của người vợ để thực hiện nhắm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì khi đó người chồng sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới với số tiền đã lừa đảo đó cùng với vợ theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình 2014.

Trường hợp người chồng không biết về việc vợ lừa đảo và cũng không tham gia trong việc lừa đảo, số tiền lừa đảo không sử dụng vào việc nhắm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì khi đó người chồng sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với số tiền lừa đảo đó.

Tuy nhiên, khi thực hiện việc thanh toán số tiền lừa đảo thì sẽ lấy tiền là tài sản riêng của vợ để thực hiện nghĩa vụ trả số tiền đã lừa đảo, trường hợp tài sản riêng của vợ không đủ để trả thì phải lấy phần tài sản của vợ trong khối tài sản chung của vợ chồng để trả.

Chồng có phải trả số nợ do người vợ lừa đảo không?

Chồng có phải trả số nợ do người vợ lừa đảo không? (Hình từ Internet)

Chồng có quyền đơn phương ly hôn khi vợ lừa đảo làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình không?

Ly hôn theo yêu cầu của một bên (đơn phương ly hôn) được quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cụ thể:

Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Theo đó, vợ lừa đảo làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình thì có thể được xem là đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng - là cơ sở để Tòa án xem xét giải quyết cho đơn phương ly hôn.

Thời điểm chấm dứt hôn nhân là khi nào trong trường hợp chồng đơn phương ly hôn vì vợ lừa đảo làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình?

Khi chồng đơn phương ly hôn vì vợ lừa đảo làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình thì thời điểm chấm dứt hôn nhân được quy định tại Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

Thời điểm chấm dứt hôn nhân và trách nhiệm gửi bản án, quyết định ly hôn
1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Tòa án đã giải quyết ly hôn phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên ly hôn; cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan.

Do đó, thời điểm chấm dứt hôn nhân đối với trường hợp chồng đơn phương ly hôn vì vợ lừa đảo làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình sẽ là kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án đối với vợ chồng có hiệu lực pháp luật.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Quyền dân sự Xem thêm

Pháp luật
Trường hợp nào vợ không được hưởng tài sản thừa kế khi người chồng qua đời? Quy định cụ thể như thế nào?

Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về thừa kế di sản do người đã chết để lại. Theo đó, người vợ có thể hưởng tài sản thừa kế của chồng thông qua di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người vợ sẽ không được hưởng tài sản thừa kế.

Bài viết mới nhất