Những điểm mới đột phá trong chính sách đất đai tại Nghị quyết 254/2025/QH15 theo Thuế tỉnh Quảng Trị?
Ngày 11/12/2025, Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua Nghị quyết 254/2025/QH15 quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
Mới đây, Thuế tỉnh Quảng Trị đã đăng tải thông tin về những điểm mới đột phá trong chính sách đất đai và tài chính đất đai tại Nghị quyết 254/2025/QH15 như sau:
(1) Mở rộng và linh hoạt hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất
Một trong những điểm mới nổi bật của Nghị quyết là mở rộng các trường hợp Nhà nước thu hồi đất ( theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 254/2025/QH15).
Theo đó, Nhà nước được thu hồi đất để thực hiện dự án trong khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế; dự án đã thỏa thuận được trên 75% diện tích đất và trên 75% số chủ sử dụng đất nhưng không thể hoàn tất do còn một số trường hợp không đồng thuận; thu hồi đất để tạo quỹ đất thanh toán hợp đồng BT hoặc để cho thuê đất tiếp tục sản xuất, kinh doanh.
So với trước đây, phạm vi thu hồi đất còn khá chặt chẽ, nhiều dự án bị kéo dài do không hoàn tất được việc thỏa thuận. Quy định mới giúp tháo gỡ “nút thắt” lớn trong triển khai dự án, hạn chế tình trạng “dự án treo”, đồng thời vẫn bảo đảm vai trò giám sát của HĐND cấp tỉnh.
(2) Đẩy nhanh giải phóng mặt bằng – rút ngắn thời gian, tăng tính chủ động
Khác với Luật Đất đai 2024 yêu cầu xong bồi thường mới thu hồi, Nghị quyết cho phép thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong một số trường hợp đặc thù như dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư công khẩn cấp hoặc dự án được trên 75% người sử dụng đất đồng ý (theo khoản 3 Điều 3, khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 254/2025/QH15).
Bên cạnh đó, thời gian thông báo thu hồi đất được rút ngắn đáng kể:
- Đất nông nghiệp: từ 90 ngày xuống 60 ngày;
- Đất phi nông nghiệp: từ 180 ngày xuống 120 ngày (theo khoản 9 Nghị quyết 254/2025/QH15);
(3) Cải cách mạnh mẽ cơ chế giá đất – tác động trực tiếp đến công tác quản lý thuế
Một trong những nội dung có tác động sâu rộng nhất là mở rộng áp dụng bảng giá đất và vô hiệu hóa “giá đất cụ thể” (Điều 5 Nghị quyết 254/2025/QH15).
Nếu như trước đây, bảng giá đất chỉ áp dụng cho một số trường hợp, còn phần lớn nghĩa vụ tài chính phải xác định theo “giá đất cụ thể” – vốn mất nhiều thời gian, dễ phát sinh khiếu nại thì nay bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất được sử dụng làm căn cứ:
- Tính tiền sử dụng đất;
- Tính tiền thuê đất;
- Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
(4) Giảm gánh nặng tài chính cho người dân khi chuyển mục đích sử dụng đất
Theo Điều 10 Nghị quyết 254/2025/QH15 quy định mức thu tiền sử dụng đất ưu đãi khi chuyển mục đích sử dụng đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất).
Mức thu chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) được phân theo hạn mức giao đất ở:
- 30% chênh lệch: trong hạn mức;
- 50% chênh lệch: vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức;
- 100% chênh lệch: vượt quá 01 lần hạn mức;
Đặc biệt, Nghị quyết cho phép hồi tố đối với các trường hợp đã nộp tiền sử dụng đất theo mức 100% chênh lệch kể từ khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực. Người dân sẽ được tính lại và hoàn trả phần chênh lệch, thể hiện rõ tính nhân văn và đồng hành cùng người nộp thuế.
(5) Tạo thuận lợi cho đầu tư – kinh doanh, giảm thủ tục hành chính
Nghị quyết cho phép:
- Giao đất, cho thuê đất theo tiến độ dự án hoặc tiến độ GPMB (theo khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 254/2025/QH15) thay vì giao toàn bộ ngay từ đầu.
- Người sử dụng đất lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền một lần hoặc hằng năm (theo khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 254/2025/QH15);
- Bổ sung nhiều trường hợp giao đất, cho thuê đất không qua đấu giá, đấu thầu, nhất là với đất thanh toán Hợp đồng BT; Dự án năng lượng, du lịch tại vùng đặc biệt khó khăn; Dự án không sử dụng vốn nhà nước nhưng thuộc diện Nhà nước thu hồi đất (theo khoản 4 Điều 4 Nghị quyết 254/2025/QH15);
- Giảm điều kiện để đấu giá, đấu thầu dự án nhà ở, khu đô thị (theo khoản 5, khoản 6 Điều 4 Nghị quyết 254/2025/QH15)
(6) Mở rộng một số trường hợp quy định về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
Theo quy định mới, Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở về sau thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại khoản 3 Điều 137 Luật Đất đai 2024.
Bên cạnh đó, các trường hợp được Nhà nước giao đất để quản lý nhưng thực tế đang sử dụng ổn định, đúng mục đích và đáp ứng điều kiện luật định cũng được đưa vào diện xem xét cấp Giấy chứng nhận.
(7) Đơn giản hóa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nghị quyết bãi bỏ việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhiều cấp, như kế hoạch 5 năm cấp thành phố trực thuộc Trung ương; Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã (theo khoản 3 Điều 12 Nghị quyết 254/2025/QH15).
Trên đây là nội dung "Những điểm mới đột phá trong chính sách đất đai tại Nghị quyết 254/2025/QH15 theo Thuế tỉnh Quảng Trị?".

Những điểm mới đột phá trong chính sách đất đai tại Nghị quyết 254/2025/QH15 theo Thuế tỉnh Quảng Trị? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc sử dụng đất hiện nay được quy định như thế nào?
Căn cứ Điều 5 Luật Đất đai 2024 quy định nguyên tắc sử dụng đất hiện nay cụ thể như sau:
- Đúng mục đích sử dụng đất.
- Bền vững, tiết kiệm, có hiệu quả đối với đất đai và tài nguyên trên bề mặt, trong lòng đất.
- Bảo vệ đất, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, không được lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học làm ô nhiễm, thoái hóa đất.
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2024 và quy định khác của pháp luật có liên quan; không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất liền kề và xung quanh.
Người sử dụng đất hiện nay phải đóng thuế các loại thuế đất nào?
Theo khoản 1 Điều 9 Luật Đất đai 2024 quy định về phân loại đất như sau:
Phân loại đất
1. Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại bao gồm nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng.
2. Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:
a) Đất trồng cây hằng năm, gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hằng năm khác;
b) Đất trồng cây lâu năm;
c) Đất lâm nghiệp, gồm đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất;
d) Đất nuôi trồng thủy sản;
đ) Đất chăn nuôi tập trung;
e) Đất làm muối;
g) Đất nông nghiệp khác.
3. Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:
a) Đất ở, gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
b) Đất xây dựng trụ sở cơ quan;
c) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh (sau đây gọi là đất quốc phòng, an ninh);
...
Đồng thời, tại Điều 1 Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993 quy định:
Điều 1
Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp đều phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp (gọi chung là hộ nộp thuế).
Hộ được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, theo Điều 4 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2010 quy định về người nộp thuế như sau:
Người nộp thuế
1. Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật này.
2. Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế.
3. Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:
a) Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất ở là người nộp thuế;
b) Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế;
c) Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế. Việc nộp thuế không phải là căn cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;
d) Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử dụng thửa đất đó;
đ) Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật này thì pháp nhân mới là người nộp thuế.
Theo những quy định trên, có thể thấy người sử dụng đất hiện nay phải đóng thuế cho loại đất sau:
- Đất nông nghiệp
- Đất phi nông nghiệp
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];