Từ năm 2026 thu nhập 15 triệu đồng/tháng không phải quyết toán thuế TNCN đúng không?

Đỗ Văn Minh 2,644 lượt xem
09:24 | 29/07/2026
Từ năm 2026 thu nhập 15 triệu đồng/tháng không phải quyết toán thuế TNCN đúng không?
Nội dung chính
  1. Từ năm 2026 thu nhập 15 triệu đồng/tháng không phải quyết toán thuế TNCN đúng không?
  2. Kỳ quyết toán thuế TNCN được xác định như thế nào?
  3. Khoản thu nhập có tính chất tiền lương tiền công không bằng tiền có đóng thuế TNCN không?

Từ năm 2026 thu nhập 15 triệu đồng/tháng không phải quyết toán thuế TNCN đúng không?

Căn cứ tại Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 51. Quyết toán thuế
1. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập; cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm quyết toán thuế theo năm, trừ các trường hợp sau:
a) Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã nộp trong kỳ tính thuế mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau;
b) Cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập quy định tại khoản 2 Điều 50 của Nghị định này thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Trường hợp cá nhân lựa chọn quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ hỗ trợ tổng hợp tất cả các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm tính thuế và được trừ số thuế đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trong năm tính thuế.
[...]

Theo quy định trên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập; cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm quyết toán thuế theo năm.

Và chỉ phần thu nhập phát sinh thêm ở nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồngđã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% thì không phải quyết toán thuế TNCN đối với phần thu nhập này.

Thu nhập từ tiền lương, tiền công tại nơi làm việc chính vẫn thực hiện quyết toán theo quy định chung nếu thuộc diện phải quyết toán.

Đối với trường hợp người lao động có thu nhập tại 1 công ty duy nhất là 15 triệu/tháng (tức tổng thu nhập trong năm là 180 triệu đồng/tháng mà mức giảm trừ gia cảnh là 186 triệu/năm) thì không phát sinh tiền thuế TNCN phải nộp, đồng thời công ty đã tính giảm trừ gia cảnh hằng tháng, không khấu trừ đồng thuế nào, và NNT không có nhu cầu hoàn thuế thì không cần quyết toán thuế.

Từ năm 2026 thu nhập 15 triệu đồng/tháng không phải quyết toán thuế TNCN đúng không?

Từ năm 2026 thu nhập 15 triệu đồng/tháng không phải quyết toán thuế TNCN đúng không? (Hình từ Internet)

Kỳ quyết toán thuế TNCN được xác định như thế nào?

Tại Điều 9 Nghị định 252/2026/NĐ-CP có quy định về kỳ tính thuế như sau:

Điều 9. Kỳ tính thuế
1. Kỳ tính thuế bao gồm kỳ theo từng lần phát sinh, tháng, quý, năm hoặc kỳ quyết toán thuế theo quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật Quản lý thuế.
2. Xác định kỳ tính thuế:
a) Kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh được xác định là ngày người nộp thuế phát sinh nghĩa vụ thuế;
b) Kỳ tính thuế tháng được xác định từ ngày đầu tháng đến ngày cuối tháng của năm dương lịch;
c) Kỳ tính thuế quý được xác định từ ngày đầu quý đến ngày cuối quý của năm dương lịch hoặc năm tài chính;
d) Kỳ tính thuế năm được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính;
đ) Kỳ quyết toán thuế được xác định như sau:
đ.1) Kỳ quyết toán thuế được xác định theo kỳ kế toán năm theo quy định của pháp luật về kế toán, trừ trường hợp quy định tại điểm đ.2 khoản này;
đ.2) Kỳ quyết toán thuế đối với thuế thu nhập cá nhân được xác định theo năm dương lịch.
Trường hợp trong một năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tổng số ngày có mặt tại Việt Nam trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của năm đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.

Như vậy, kỳ quyết toán thuế được xác định theo kỳ kế toán năm theo quy định của pháp luật về kế toán.

Riêng kỳ quyết toán thuế TNCN được xác định theo năm dương lịch.

Trường hợp trong một năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tổng số ngày có mặt tại Việt Nam trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ quyết toán thuế TNCN của năm đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.

Khoản thu nhập có tính chất tiền lương tiền công không bằng tiền có đóng thuế TNCN không?

Tại Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP có quy định về thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:

Điều 8. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Thu nhập từ tiền lương, tiền công quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
1. Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới mọi hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.
2. Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền mà cá nhân nhận được từ tổ chức, cá nhân, người sử dụng lao động dưới mọi hình thức:
a) Tiền tham gia đề tài, dự án, đề án; tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền tham gia các hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao;
b) Tiền nhận được từ tham gia hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý, các hiệp hội, hội nghề nghiệp, các hội được thành lập theo quy định của pháp luật và các tổ chức khác;
c) Tiền thù lao nhận được từ cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề;
d) Phí hội viên và các khoản chi phí dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân để chăm sóc sức khỏe, vui chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ. Trường hợp các dịch vụ này được sử dụng chung, không ghi tên cá nhân hoặc nhóm cá nhân sử dụng tại phiếu hoặc thẻ hội viên thì không tính vào thu nhập chịu thuế;
đ) Phần khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục phục vụ công việc của cá nhân cao hơn mức quy định sau đây:
Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, hội, hiệp hội: mức khoán chi áp dụng theo văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy chế của cơ quan, tổ chức đó.
Đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh: mức khoán chi áp dụng phù hợp với việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức quốc tế, các văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài: mức khoán chi thực hiện theo quy định của tổ chức quốc tế, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài;
[...]

Như vậy, khoản thu nhập có tính chất tiền lương tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới mọi hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền thuộc khoản thu nhập chịu thuế TNCN.

Đỗ Văn Minh
Đỗ Văn Minh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Thuế - Phí - Lệ Phí Xem thêm

Bài viết mới nhất