Có được yêu cầu công dân thực hiện việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân không?
Ngày 30/3/2026, Bộ Công an ban hành Công văn 1295/BCA-C06 năm 2026 về việc đề nghị phối hợp triển khai một số điểm mới Nghị định 58/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Xem toàn bộ Công văn 1295/BCA-C06 năm 2026 về việc đề nghị phối hợp triển khai một số điểm mới Nghị định 58/2026 dưới đây:
Bộ Công an đê nghị các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quan tâm phối hợp thực hiện một số nội dung sau:
1. Về việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân
Căn cứ quy định tại khoản 21 Điều 5 Nghị định số 58/2026/NĐ-CP, theo đó bãi bỏ điểm a, điểm b khoản 7 Điều 11; khoản 8, khoản 10 Điều 11 Nghị định số 70/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước:
Phối hợp tuyên truyền để các cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm được nội dung Bộ Công an dừng tiếp nhận yêu cầu hủy, xác lập lại số định danh cá nhân kể từ ngày 15/3/2026.
- Trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, tuyệt đối không yêu cầu công dân thực hiện việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân (mỗi công dân Việt Nam khi được thu thập thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã được cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an xác lập 01 số định danh cả nhân duy nhất, không trùng lặp với người khác).
- Rà soát, điều chỉnh quy trình nghiệp vụ, hệ thống thông tin, biểu mẫu (nếu có) để bảo đảm phù hợp với quy định mới, không phát sinh thủ tục không cần thiết.
Theo đó, Bộ Công an dừng tiếp nhận yêu cầu hủy, xác lập lại số định danh cá nhân kể từ ngày 15/3/2026. Do đó, trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, tuyệt đối không yêu cầu công dân thực hiện việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân (mỗi công dân Việt Nam khi được thu thập thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã được cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an xác lập 01 số định danh cả nhân duy nhất, không trùng lặp với người khác).
Trên đây là thông tin: Có được yêu cầu công dân thực hiện việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân không?

Có được yêu cầu công dân thực hiện việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân không? (Hình từ Internet)
Dùng số định danh cá nhân trong phiếu lý lịch tư pháp từ 1/7/2026 đúng không?
Căn cứ theo Điều 42 Luật Lý lịch tư pháp 2009 được sửa đổi bởi điểm d, điểm i, điểm n khoản 22 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp 2025 có quy định như sau:
Điều 42. Nội dung Phiếu lý lịch tư pháp số 1
1. Họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký khai sinh, quốc tịch, dân tộc, nơi cư trú, số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
[...]
Căn cứ theo Điều 43 Luật Lý lịch tư pháp 2009 được sửa đổi bởi điểm d, điểm i, điểm k, điểm n khoản 22 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp 2025 có quy định như sau:
Điều 43. Nội dung Phiếu lý lịch tư pháp số 2
1. Họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký khai sinh, quốc tịch, dân tộc, nơi cư trú, số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân, họ, chữ đệm và tên cha, mẹ, vợ, chồng của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
[...]
Như vậy, từ ngày 01/7/2026, sẽ thống nhất sử dụng số định danh cá nhân thay cho số giấy chứng minh nhân dân trong phiếu lý lịch tư pháp.
Số định danh cá nhân được sử dụng để làm gì theo Luật Căn cước 2023?
Căn cứ tại khoản 3 Điều 20 Luật Căn cước 2023 quy định như sau:
Điều 20. Giá trị sử dụng của thẻ căn cước
[...]
2. Thẻ căn cước được sử dụng thay cho giấy tờ xuất nhập cảnh trong trường hợp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép người dân nước ký kết được sử dụng thẻ căn cước thay cho giấy tờ xuất nhập cảnh trên lãnh thổ của nhau.
3. Thẻ căn cước hoặc số định danh cá nhân được sử dụng để cơ quan, tổ chức, cá nhân kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia khác và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người được cấp thẻ căn cước phải xuất trình thẻ căn cước theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó không được yêu cầu người được cấp thẻ xuất trình giấy tờ hoặc cung cấp thông tin đã được in, tích hợp vào thẻ căn cước; trường hợp thông tin đã thay đổi so với thông tin trên thẻ căn cước, người được cấp thẻ phải cung cấp giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý chứng minh các thông tin đã thay đổi.
4. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được cấp thẻ căn cước theo quy định của pháp luật.
Như vậy, số định danh cá nhân được sử dụng để cơ quan, tổ chức, cá nhân kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia khác và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];