Phạm tội giết người có được chỉ định Luật sư để bào chữa hay không?
Tại Điều 2 Luật Luật sư 2006 quy định Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Đồng thời tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về người bào chữa:
Điều 72. Người bào chữa
1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.
2. Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện của người bị buộc tội;
c) Bào chữa viên nhân dân;
d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
Theo quy định trên, Luật sư có thể là người bào chữa.
Tại Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
- Đối với trường hợp thuê người bào chữa thực hiện theo quy định tại Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 10 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025)
- Theo Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Đối với một số trường hợp không có người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định, Cụ thể như sau:
Điều 76. Chỉ định người bào chữa
1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa;
b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
Như vậy, người bị buộc tội giết người có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư, người khác bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bị can, bị cáo bị truy cứu về tội giết người theo khung hình phạt có mức cao nhất là 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình mà người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Người bào chữa được chỉ định có thể là luật sư theo trình tự luật định.
Trong đó tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 về tội giết người thì mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình. Đối với người bị truy cứu ở khoản 2 thì khung hình phạt cao nhất là 15 năm.

Phạm tội giết người có được chỉ định Luật sư để bào chữa hay không? (Hình từ Internet)
Quy định chi tiết về việc chỉ định người bào chữa như thế nào?
Theo Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về chỉ định người bào chữa như sau:
(1) Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
- Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình
- Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi
(2) Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
- Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
Quy định về việc thay đổi hoặc từ chối người bào chữa như thế nào?
Căn cứ Điều 77 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về thay đổi hoặc từ chối người bào chữa như sau:
(1) Những người sau đây có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa:
- Người bị buộc tội
- Người đại diện của người bị buộc tội
- Người thân thích của người bị buộc tội
Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
(2) Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối.
(3) Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
Trường hợp thay đổi người bào chữa thì việc chỉ định người bào chữa khác được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];