Bản án 55/2018/DS-ST ngày 13/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 55/2018/DS-ST NGÀY 13/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 13 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2018/TLST–DS ngày 03 tháng 4 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2018/QĐXXST - DS ngày 02 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Bưu Điện Liên Việt

Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, số 109, Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Đại diện tham gia tố tụng: Ông Lê Thế A - Chức vụ Chuyên viên Tổ khách hàng Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, chi nhánh Hậu Giang - Phòng giao dịch Long Mỹ (có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ phòng giao dịch: số 16-18, đường 30/4, phường Thuận An, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn:

1/ Ông Phan Ngọc Th, sinh năm 1978 (vắng mặt tại phiên tòa)

2/ Bà Ngô Thị Cẩm Kh, sinh năm 1979 (có mặt tại phiên tòa)

Cùng địa chỉ: số 15, đường NH, khóm M, phường M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện lập ngày 01/11/2017 và trong quá trình xét xử, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Thế Anh trình bày:

Vào ngày 16/12/2015 ông Phan Ngọc Th, bà Ngô Thị Cẩm Kh có vay của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, chi nhánh Hậu Giang - Phòng giao dịch Long Mỹ số tiền 180.000.000 đồng, theo hợp đồng tín dụng số 0102199CL013L1- LienvietPostBank, thỏa thuận của hợp đồng như sau: thời hạn vay 60 tháng, mục đích tiêu dùng, kỳ hạn trả nợ là nợ gốc và lãi được trả định kỳ hàng tháng, cố định ngày 15 hàng tháng, số kỳ trả nợ là 60 kỳ, số tiền trả mỗi kỳ 3.000.000 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 15/01/2016; kỳ trả nợ cuối cùng là ngày 08/12/2020, lãi suất cho vay13,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn (gốc, lãi) bằng 150% lãi suất cho vay. Khoản vay trên đã quá hạn từ ngày 16/02/2017, trong quá trình đôn đốc thu hồi nợ Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông Th, bà Kh thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay, tuy nhiên ông Th đã bỏ địa phương đi không liên lạc được, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà Kh trả nợ nhưng bà Kh từ chối thanh toán cho Ngân hàng, tính đến 09/11/2018, ông Th, bà Kh còn nợ của Ngân hàng số tiền là 178.711.751 đồng, trong đó vốn gốc là 138.000.000 đồng, nợ lãi tổng cộng là 40.711.751 đồng (bao gồm lãi trong hạn là 25.107.737 đồng, lãi quá hạn là 15.604.014 đồng). Tại phiên tòa, ông Lê Thế A là người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu bà Ngô Thị Cẩm Kh trả nợ mà chỉ yêu cầu ông Phan Ngọc Th có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn lãi là 178.711.751 đồng và ông Th phải chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng kể từ ngày 10/11/2018.

Theo tờ tường trình lập ngày 16/4/2018 và trong quá trình xét xử, bị đơn bà Ngô Thị Cẩm Kh trình bày:

Bà không có tham gia ký kết hợp đồng tín dụng số 0102199CL013L1- LienvietPostBank, ngày 16/12/2015 với Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, chi nhánh Hậu Giang – Phòng giao dịch Long Mỹ, bà cũng không có tham gia bất kỳ giao dịch nào với phía Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt nên bà không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về việc ông Phan Ngọc Th có tham gia vay tiền của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, chi nhánh Hậu Giang – Phòng giao dịch Long Mỹ thì bà không biết. Đồng thời bà cũng không thừa nhận chữ ký, chữ viết “Ngô Thị Cẩm Kh” trong Hợp đồng tín dụng số 0102199CL013L1-LienvietPostBank, ngày 16/12/2015; Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ lập ngày 14/12/2015 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ lập ngày 16/12/2015 do phía Ngân hàng cung cấp.

Tại phiên tòa, vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án. Các đương sự chấp hành tốt nội quy phiên tòa và quy định của pháp luật. Riêng bị đơn ông Phan Ngọc Thuận vắng mặt là không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Th trả tiền vốn và lãi tính đến ngày 09/11/2018 số tiền 178.711.751 đồng. Đồng thời căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu bà Ngô Thị Cẩm Khuyến cùng trà nợ với ông Thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:

Bị đơn ông Phan Ngọc Th có nơi cư trú rõ ràng nhưng ông thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ nơi ở mới cho chính quyền địa phương và cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt biết để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tín dụng. Vì vậy xem như ông Th cố tình giấu địa chỉ nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với Ngân hàng, do vậy Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ theo quy định điểm e khoản 1 Điều 192 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt ông Th.

Tại phiên tòa, ông Lê Thế A là người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu bà Ngô Thị Cẩm Kh trả nợ. Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà Ngô Thị Cẩm Kh cùng trả nợ với ông Th.

[2] Về nội dung vụ án: Qua xem xét hợp đồng tín dụng số 0102199CL013L1- LienvietPostBank, ngày 16/12/2015, thể hiện ông Phan Ngọc Th có vay của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, chi nhánh Hậu Giang – Phòng giao dịch Long Mỹ số tiền 180.000.000 đồng. Thỏa thuận của hợp đồng như sau: thời hạn vay 60 tháng, mục đích tiêu dùng, kỳ hạn trả nợ là nợ gốc và lãi được trả định kỳ hàng tháng, cố định ngày 15 hàng tháng, số kỳ trả nợ là 60 kỳ, số tiền trả mỗi kỳ 3.000.000 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 15/01/2016; kỳ trả nợ cuối cùng là ngày 08/12/2020, lãi suất cho vay  13,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn (gốc, lãi) bằng 150% lãi suất cho vay. Khi thực hiện hợp đồng ông Th đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn 42.000.000 đồng, kể từ ngày 16/02/2017 đến nay thì ông Th không có trả khoản tiền nào cho Ngân hàng.

 [3] Xét thấy, ông Th đã thụ hưởng quyền lợi là nhận số tiền vay 180.000.000 đồng, nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng theo như thỏa thuận về phương thức trả nợ quy định tại Điều 4 của hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Vì ông Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 16/02/2017 đến nay, nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Th thanh toán toàn bộ số tiền vốn gốc và tiền lãi là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Số tiền ông Th còn nợ Ngân hàng tính đến ngày 09/11/2018, cụ thể: 178.711.751 đồng, trong đó vốn gốc là 138.000.000 đồng, nợ lãi tổng cộng là 40.711.751 đồng (bao gồm lãi trong hạn là 25.107.737 đồng, lãi quá hạn là 15.604.014 đồng).

 [4] Về tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên thì Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt không có yêu cầu và các bên cũng không có thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 0102199CL013L1-LienvietPostBank, ngày 16/12/2015, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về chi phí giám định chữ ký số tiền 4.070.000 đồng. Tại phiên tòa, bà Ngô Thị Cẩm Kh đồng ý chịu nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Số tiền này bà Kh đã nộp xong.

 [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Ngọc Th phải chịu án phí đối với yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận là: 178.711.751 đồng x 5% = 8.935.587đồng.

 [7] Đề nghị của vị Kiểm sát viên về hướng giải quyết vụ án nêu trong phần nội dung là có căn cứ HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt về việc yêu cầu bà Ngô Thị Cẩm Kh có trách nhiệm cùng ông Phan Ngọc Th trả nợ vay cho Ngân hàng.

2/ Buộc ông Phan Ngọc Th có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt số tiền vốn gốc 138.000.000đồng và tiền lãi 40.711.751 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 178.711.751 đồng (Một trăm bảy mươi tám triệu, bảy trăm mười một ngàn, bảy trăm năm mươi mốt đồng).

Kể từ ngày 10/11/2018 cho đến khi ông Phan Ngọc Th thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, thì hàng tháng ông Th còn phải chịu tiền lãi phát sinh trên số vốn gốc còn nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại đồng tín dụng số 0102199CL013L1-LienvietPostBank” lập ngày 16/12/2015.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:

3.1/ Về chi phí giám định: Bà Ngô Thị Cẩm Kh chịu 4.070.000 đồng (Bốn triệu, không trăm bảy mươi ngàn đồng). Bà Kh đã nộp đủ số tiền này.

3.2/ Về án phí: Ông Phan Ngọc Th phải chịu án phí số tiền 8.935.587 đồng (Tám triệu, chín trăm ba mươi lăm ngàn, năm trăm tám mươi bảy đồng). Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt không phải chịu án phí, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.782.000 đồng (ba triệu, bảy trăm tám mươi hai ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001368, ngày 03/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

4/ Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


81
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2018/DS-ST ngày 13/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:55/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngã Năm - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 13/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về