Bản án 43/2006/KDTM-ST ngày 24/05/2006 về việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng

TÒA  ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 43/2006/KDTM-ST NGÀY 24/05/2006 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ XƯỞNG

Ngày 24 tháng 5 năm 2006 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2006/TLST-KDTM ngày 12 tháng 10 năm 2005 về Tranh chấp Hợp đồng thuê nhà xưởng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/KDTM/QĐXX-PT ngày 15 tháng 5 năm 2006 giữa các đương sự:

Nguyên đơnCông ty điện máy, xe đạp, xe máy

Trụ sở: 163 Đại La, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

Ông Chu Mạnh Cường – theo giấy ủy quyền số 38 – GYQ ngày 01/11/2005 của Giám đốc Công ty – Có mặt tại phiên tòa.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

Luật sư Phạm Hồng Hải – có mặt

Và luật sư Lê Văn Kiên – có mặt

Bị đơnCông ty TNHH Thùy Anh

Trụ sở: 42 ngõ 67 phố Đức Giang, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Hạ Thị Hồ Hoa – vắng mặt

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 8 năm 2005 và tại các lời khai, nguyên đơn, Công ty điện máy xe đạp xe máy trình bày: Nguyên đơn có ký hợp đồng cho bị đơn – Công ty TNHH Thùy Anh thuê nhà xưởng để làm việc tại 42 ngõ 67 phố Đức Giang, Long Biên, Hà Nội. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê theo hợp đồng, nên nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn chấm dứt hợp đồng với các yêu cầu sau:

- Bị đơn trả lại toàn bộ diện tích thuê.

- Hoàn trả toàn bộ tiền thuê nhà còn thiếu là 308.000.000 đồng và lãi là 24.976.875 đồng.

Đại diện phía bị đơn xác nhận còn nợ nguyên đơn tiền thuê nhà tính đến tháng 12.2005 là 252.000.000 đồng. bị đơn hứa sẽ trả nguyên đơn số tiền trên và xin được miễn lãi.

XÉT THẤY

Ngày 01.8.2001, Công ty điện máy xe đạp xe máy (Bên A) và Công ty TNHH Thùy Anh (Bên B) có ký hợp đồng thuê nhà xưởng với nội dung:

Bên A cho bên B thuê diện tích 2.000m2 đất trong đó có 01 nhà 2 tầng và 03 dãy nhà xưởng có phụ lục chi tiến bàn giao như sơ đồ, thực trạng mặt bằng cho thuê. Địa điểm cho thuê là 42 ngõ 67 phố Đức Giang, Long Biên, Hà Nội.

Thời hạn thuê từ 01.9.2001 đến 30.8.2006.

Giá cho thuê là 14.000.000 đồng/tháng. Bên B thanh toán cho bên A 3 tháng 1 lần.

Sau khi thanh lý hợp đồng bên B phải giao lại cho bên A toàn bộ mặt bằng, tài sản của bên A và cả phần sửa chữa của bên B (được bên A cho phép).

Ngoài ra các bên còn thỏa thuận về trách nhiệm của các bên và chọn cơ quan tài phán.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH Thùy Anh đã trả tiền thuê nhà đến hết tháng 3.2004. Sau đó bị đơn không trả tiền thuê nhà nữa, mặc dù phía nguyên đơn đã có nhiều công văn nhắc nhở, bị đơn vẫn không thực hiện.

Do đó đến ngày 11.6.2004 nguyên đơn có công văn số 71/ĐM-XĐXM thông báo cho bị đơn về việc hủy hợp đồng và yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ diện tích nhà xưởng đang thuê. Đến ngày 24.8.2005 nguyên đơn có đơn khởi kiện.

Căn cứ điểm e khoản 1 điều 29 và điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ kiện này do Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là hoàn toàn phù hợp. Căn cứ vào Hợp đồng quy định thời hạn hiệu lực của hợp đồng từ 01.9.2001 đến ngày 30.8.2006. Ngày 11.6.2004 nguyên đơn có công văn chấm dứt hợp đồng với bị đơn do bị đơn vi phạm nghĩa vụ của bên thuê và ngày 25.8.2005 nguyên đơn có đơn khởi kiện là đúng quy định tại điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự về thời hiệu khởi kiện.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn – Công ty TNHH Thùy Anh vắng mặt. Thấy rằng:

Vụ kiện này, Tòa án đã ra quyết định số 75/KDTM/QĐXX-ST ngày 15.5.2006 để đưa vụ kiện ra xét xử vào ngày 18.5.2006. Tuy nhiên tại phiên tòa ngày 18.5.2006 phía bị đơn có đơn đề nghị hoãn phiên tòa và luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, phía bị đơn tiếp tục vắng mặt. Còn luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do “bận đột xuất”. Đây là lần thứ 2 bị đơn và luật sư bị đơn vắng mặt. Vì vậy, căn cứ điều 202, 203 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và luật sư phía bị đơn.

Xét nội dung hợp đồng thấy đây là hợp đồng thuê nhà xưởng giữa 2 pháp nhân. Đại diện bên cho thuê cũng như bên thuê đều có đủ tư cách ký hợp đồng nhân danh pháp nhân mình. Bên cho thuê được phép kinh doanh cho thuê nhà xưởng, theo đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh được cấp có thẩm quyền xác nhận. Mặt khác, khi tiến hành ký hợp đồng cho bị đơn thuê nhà xưởng, nguyên đơn đã có văn bản báo cáo với cơ quan chủ quản là Bộ Thương mại. Tại Công văn số 1870/TM/KHĐT ngày 28.3.2006 Bộ Thương mại đã có ý kiến xác định vấn đề này, đồng thời đề nghị Tòa án xem xét giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa các bên theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn. Thấy hợp đồng quy định bị đơn phải thanh toán tiền thuê nhà cho bị đơn 3 tháng 1 lần, vào tháng thứ 2. Nhưng bị đơn mới trả nguyên đơn tiền thuê đến tháng 3.2004, còn lại chưa trả. Tại biên bản hòa giải do Tòa án lập ngày 11.01.2006 phía bị đơn cũng xác nhận còn nợ tiền thuê nhà xưởng như nguyên đơn đưa ra. Bị đơn cam kết vẫn có trách nhiệm. Do đó thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán tiền thuê nhà xưởng còn thiếu tính đến 24.5.2006 với số tiền là 308.000.000 đồng.

Nguyên đơn còn yêu cầu bị đơn phải chịu lãi phạt quá hạn do chậm thanh toán số tiền trên. Thấy hợp đồng không quy định có việc tính lãi. Do đó, không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Về yêu cầu chấm dứt hợp đồng trước thời hạn của nguyên đơn: Như đã phân tích trên Tòa án thấy có đủ cơ sở khẳng định hợp đồng thuê nhà xưởng giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê từ 4.2004 đến nay, nên nguyên đơn xin được chấm dứt trước thời hạn hợp đồng cho thuê là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điều 498 Bộ luật dân sự. Vì vậy, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, cho hai bên thanh lý hợp đồng vào ngày 24.5.2006 và bị đơn trả lại nhà xưởng.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án văn bản số 340/TB-UB ngày 23.12.2005 và số 1525/UB-NNĐC ngày 13.4.2006 của Văn phòng Uỷ ban nhân dân thành phố thông báo cho nguyên đơn hướng xử lý của Uỷ ban đối với diện tích đất đang cho bị đơn thuê. Như vậy việc cho các bên thanh lý hợp đồng, bị đơn phải trả lại nhà xưởng cho nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ. Theo đó nguyên đơn sẽ phải chịu trách nhiệm với cơ quan cấp trên cũng như cơ quan quản lý đất đai của thành phố. Bởi lẽ diện tích đất nguyên đơn đang cho bị đơn thuê thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn, được Nhà nước công nhận, giao cho và nguyên đơn đã kê khai sử dụng đất theo Chỉ thị 245 TTg – 1995 và đang trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí đối với số tiền 308.000.000 đồng phải trả nguyên đơn theo quy định tại điều 130, 131 Bộ luật tố tụng dân sự và điều 15, 19 Nghị định 70CP của Chính phủ quy định về án phí. Mức án phí là 12.240.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Nguyên đơn không được chấp nhận tính lãi tiền thuê nhà, do đó phải chịu án phí số tiền không được chấp nhận 24.976.875 đồng, án phí là 1.240.000 đồng. Số tiền này sẽ được đối trừ với dự phí nguyên đơn đã nộp 4.500.000 đồng tại phiếu thu số 6371 ngày 12.10.2005 của cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Như vậy nguyên đơn sẽ được hoàn lại 3.260.000 đồng.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 131, 200, điều 203, điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ điều 494, 495, 498, 500 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Nghị định 70/CP ngày 12.6.1997 quy định về án phí.

Căn cứ Thông tư 01/TTLT của Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu đơn phương hủy bỏ Hợp đồng số /HĐKD ngày 1.8.2001 giữa Công ty điện máy xe đạp xe máy và Công ty TNHH Thùy Anh. Hợp đồng chấm dứt từ ngày 24.5.2006.

2. Buộc Công ty TNHH Thùy Anh phải bàn giao toàn bộ nhà xưởng theo hợp đồng ngày 1.8.2001 và biên bản bàn giao ngày 29.8.2001 giữa Công ty TNHH Thùy Anh và Công ty điện máy xe đạp xe máy.

3. Buộc Công ty TNHH Thùy Anh phải thanh toán cho Công ty điện máy xe đạp xe máy tiền thuê nhà xưởng từ tháng 7.2004 đến tháng 4.2006 là 308.000.000 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án thì bị đơn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định cho số tiền còn phải thi hành án tương xứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

4. Bác yêu cầu của Công ty điện máy xe đạp xe máy về yêu cầu tính lãi phạt quá hạn đối với Công ty TNHH Thùy Anh.

5. án phí: Công ty TNHH Thùy Anh phải chịu 12.240.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Công ty điện máy xe đạp xe máy phải chịu 1.240.000 đồng án phí kinh doanh thương mại xác nhận Công ty đã nộp 4.500.000 đồng dự phí theo biên lai thu số 6371 ngày 12.10.2005 tại cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hà Nội nay được hoàn lại 3.260.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.


218
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2006/KDTM-ST ngày 24/05/2006 về việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng

Số hiệu:43/2006/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 24/05/2006
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về