Bản án 36/2017/DS-ST gày 20/07/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU  

BẢN ÁN 36/2017/DS-ST GÀY 20/07/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 20 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 429/2016/TLST- DS ngày 08 tháng 12 năm 2016 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”  theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2017/QĐXX-DS ngày 01-06-2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2017/QĐST-DS ngày 20/6/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt

Địa chỉ: số 2A đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Tiến Thủy, sinh năm 1982 và ông Huỳnh Thái Tài, sinh năm 1989 cùng trú tại số 473 đường Nguyễn An ninh, phường 9, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn  (có mặt)

(Văn bản ủy quyền số 143/2016/QĐ-GĐ ngày 24-10-2016)

- Bị đơn: - Ông Bùi Xuân D, sinh năm 1973

Địa chỉ: đường A, phường Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

- Bà Phạm Thị T, sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội  (Ông D và bà T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 24-10-2016 và các lời khai tại Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt  (viết tắt là Ngân hàng Liên Việt)  trình bày:

Ngày 25-9-2014, Ngân hàng Liên Việt - Chi nhánh Vũng Tàu và ông D bà T đã ký hợp đồng tín dụng số 228-14/HĐTD-LPBVT không có tài sản đảm bảo với nội dung: Ngân hàng Liên Việt - Chi nhánh Vũng Tàu cho ông D và bà T vay số tiền 50.000.000 đồng  (Năm mươi triệu đồng); Thời hạn vay: 24 tháng; Mục đích vay: Vay tiêu dùng; Lãi suất trong hạn: 15%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng Liên Việt - Chi nhánh Vũng Tàu đã giải ngân cho ông D và bà T số tiền vay theo hợp đồng tín dụng nói trên nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông D và bà T đã vi phạm hợp đồng tín dụng, không trả gốc và lãi đúng hạn đã cam kết. Ngân hàng Liên Việt - Chi nhánh Vũng Tàu đã đôn đốc và nhắc nhở nhiều lần nhưng ông D và bà T vẫn không thanh toán. Vì vậy, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt khởi kiện yêu cầu ông D và bà T phải thanh toán tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 20-7-2017 là 65.765.039 đồng  (Sáu mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi lăm ngàn, không trăm ba mươi chín đồng); Trong đó: Nợ gốc là 43.203.234 đồng, tiền lãi trong hạn là 6.043.825 đồng, tiền lãi quá hạn là 16.517.980 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp tục được tính từ ngày 21/7/2017 cho đến khi ông D và bà T trả xong nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 228-14/HĐTD-LPBVT ngày 25-9-2014.

Trong quá trình làm việc tại Tòa, phía Ngân hàng TMCP bưu điện Liên Việt yêu cầu ông D và bà T phải trả khoản tiền lãi phạt lãi là 2.668.231 đồng nhưng tại phiên tòa hôm nay phía Ngân hàng TMCP bưu điện Liên Việt xin rút yêu cầu này.

Bị đơn ông D và bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Đến thời điểm mở phiên tòa, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới về vụ án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu quan điểm về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, đối chiếu quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt. Buộc ông D và bà T phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 20-7-2017 là 65.765.039 đồng  (Sáu mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi lăm ngàn, không trăm ba mươi chín đồng); Trong đó: Nợ gốc là 43.203.234 đồng, tiền lãi trong hạn là 6.043.825 đồng, tiền lãi quá hạn là 16.517.980 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp tục được tính từ ngày 21/7/2017 cho đến khi ông D và bà T trả xong nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 228- 14/HĐTD-LPBVT ngày 25-9-2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”  giữa giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt và ông D, bà T, bị đơn có địa chỉ tại thành phố Vũng Tàu, mục đích vay để tiêu dùng, nên căn cứ theo quy định pháp luật xác định là vụ án dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

Tại phiên tòa ông D, bà T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt, không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông D và bà T là phù hợp pháp luật.

[2]. Về nội dung:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp: 6300048638, đăng ký lần đầu ngày 03-4-2008, đăng ký thay đổi lần thứ 12 ngày 22-6-2015, với ngành nghề kinh doanh: Huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác  (Theo giấy phép hoạt động số 91/GP-NHNN ngày 28-3-2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Ngày 25-9-2014, Ngân hàng Liên Việt - Chi nhánh Vũng Tàu và ông D, bà T ký hợp đồng tín dụng số 228-14/HĐTD-LPBVT; theo đó ông D và bà T vay số tiền 50.000.000 đồng  (Năm mươi triệu đồng); Thời hạn vay: 24 tháng; Mục đích vay: Vay tiêu dùng; Lãi suất trong hạn: 15%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn và không có tài sản đảm bảo. Hợp đồng tín dụng đã được các bên ký kết và phía Ngân hàng TMCP bưu điện Liên Việt - Chi nhánh Vũng Tàu đã giải ngân số tiền vay theo hợp đồng đã ký cho ông D bà T nên việc vay mượn tiền giữa hai bên là hoàn toàn có thật, số tiền vay là 50.000.000 đồng, thời hạn cuối cùng để thanh toán hết số nợ gốc là ngày 25-9-2016 nhưng đến ngày hôm nay ông D và bà T vẫn chưa trả hết nợ và cũng không có điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn việc trả nợ. Vì vậy, ông D và bà T đã vi phạm hợp đồng tín dụng về nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng Bưu điện Liên Việt.

Xét thấy tại điều 4 của hợp đồng tín dụng giữa hai bên ký kết thỏa thuận thời hạn vay là 24 tháng và ngày cuối cùng để thanh toán hết số nợ gốc là ngày 25-9- 2016, tuy nhiên đến thời hạn trên ông D và bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên ông D và bà T còn phải chịu mức lãi suất quá hạn.

Từ những phân tích nêu trên đã có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt đối với ông D và bà T. Buộc ông D và bà T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 20-7-2017 là 65.765.039 đồng  (Sáu mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi lăm ngàn, không trăm ba mươi chín đồng); Trong đó: Nợ gốc là 43.203.234 đồng, tiền lãi trong hạn là 6.043.825 đồng, tiền lãi quá hạn là 16.517.980 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp tục được tính từ ngày 21/7/2017 cho đến khi ông D và bà T trả xong nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 228-14/HĐTD-LPBVT ngày 25-9- 2014.

Xét thấy, việc Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt xin rút yêu cầu về khoản tiền lãi phạt lãi là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên HĐXX chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên không phải chịu án phí.

Bị đơn vi phạm về nghĩa vụ trả nợ, yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 10/11/2010; Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án, tuyên xử;

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo Hợp đồng tín dụng số 228-14/HĐTD-LPBVT ngày 25-9-2014, giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt và ông D, bà T.

Buộc ông D, bà T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 20-7-2017 là 65.765.039 đồng  (Sáu mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi lăm ngàn, không trăm ba mươi chín đồng); Trong đó: Nợ gốc là 43.203.234 đồng, tiền lãi trong hạn là 6.043.825 đồng, tiền lãi quá hạn là 16.517.980 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay.

[2]. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông D và bà T chịu 3.288.251 đồng  (Ba triệu, hai trăm tám mươi tám ngàn, hai trăm năm mươi mốt đồng).

Hoàn trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 1.495.597 đồng  (Một triệu, bốn trăm chín mươi lăm ngàn, năm trăm chín mươi bảy đồng)  cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002413 ngày 08-12-2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[3]. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15  (mười lăm)  ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm


37
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2017/DS-ST gày 20/07/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:36/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/07/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về