Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 17/04/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 29/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LY HÔN

Trong ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại  Sơn,  tỉnh  An  Giang,  xét  xử  sơ  thẩm  công  khai  vụ  án  thụ  lý  số 426/2018/TLST-HNGĐ ngày 24/12/2018, về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình, ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 15/3/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1975 (có mặt)

Cư trú: Ấp Hòa Tây A, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Cư trú: Ấp Hòa Tây A, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, nguyên đơn Bà Lê Thị B trình bày: Tôi với ông Võ Văn Đ chung sống với nhau từ năm 1998, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu hai người chung sống hòa thuận hạnh phúc và có 03 con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 09/9/2001, Võ Phước K, sinh ngày 22/02/2004, Võ Minh M, sinh ngày 03/3/2007. Đến năm 2016 hai người phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân ông Đ có quan hệ với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ con, về nhà kiếm chuyện đánh vợ con vô cớ. Hai người đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm hai người không còn, hôn nhân không thể hàn gắn được nên tôi yêu cầu được ly hôn với ông Võ Văn Đ; về con chung sau khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi 03 con chung, không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho ông Võ Văn Đ thông báo thụ lý, thông báo hòa giải với nội dung: Bà Lê Thị B yêu cầu xin ly hôn với ông Võ Văn Đ; về con chung sau khi ly hôn yêu cầu được nuôi 03 con chung, yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật; về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Đ đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu của bà B nên Tòa án lập biên bản không hòa giải được và tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình xin ly hôn, bị đơn ông Võ Văn Đ cư trú tại ấp Hòa Tây A, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, ông Võ Văn Đ vắng mặt, Tòa án triệu tập hợp lệ 2 lần. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.

 [2] Về nội dung:

- Về hôn nhân: Bà Lê Thị B chung sống với ông Võ Văn Đ từ năm 1998, nhưng đến nay vẫn chưa có đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” có quyền đăng ký kết hôn và theo qui định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Đối với trường hợp của bà Lê Thị Biều

và ông Võ Văn Đ mặc dù hai người đã đủ điều kiện để đăng ký kết hôn, nhưng không thực hiện theo qui định của pháp luật. Nay bà B yêu cầu ly hôn với ông Đ, về mặt pháp luật bà B,  ông Đ không phải là vợ  chồng nên Hội đồng xét xử không thể xem xét chấp nhận theo thủ tục ly hôn mà cần áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận bà Lê Thị B và ông Võ Văn Đ là vợ chồng.

- Về con chung: Quá trình chung sống bà B và ông Đ có 03 con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 09/9/2001; Võ Phước K, sinh ngày 22/02/2004; Võ Minh M, sinh ngày 03/3/2007. Hiện nay 03 cháu T, K, M chung sống với bà B, được bà B chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, qua lấy ý kiến cháu T, K, M thì nguyện vọng của các cháu muốn sống với mẹ. Để tránh xáo trộn về mặt tâm lý, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu T, K, M cho bà B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, bà B phải tạo điều kiện cho ông Đ đến thăm nom, chăm sóc con, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo qui định pháp luật.

Tại đơn khởi kiện, bà B yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, tuy nhiên tại phiên tòa bà B rút lại yêu cầu ông Đ cấp dưỡng. Xét đây là sự tự nguyên của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử ghi nhận và đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng của nguyên đơn.

-  Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét; về nợ chung không có.

Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Bà B yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 điều 227, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84  Luật  hôn nhân và gia đình năm 2014;Nghị  quyết  số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị B và ông Võ Văn Đ là vợ chồng.

- Về con chung: Bà Lê Thị B được tiếp tục nuôi 03 con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 09/9/2001; Võ Phước K, sinh ngày 22/02/2004; Võ Minh M, sinh ngày 03/3/2007. Bà Lê Thị B phải tạo điều kiện cho ông Đ đến thăm nom, chăm sóc con chung, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

- Đình chỉ yêu cầu của bà Lê Thị B về việc yêu cầu ông Võ Văn Đ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0014842 ngày 21/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (bà B đã nộp xong).

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 17/04/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:29/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về