Bản án 178/2017/HSST ngày 28/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 178/2017/HSST NGÀY 28/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 180/2017/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Lò Văn L; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 10 năm 2000; nơi cư trú: Bản Đ, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; Con ông: Lò Văn Đ – SN: 1977 và bà Quàng Thị N – SN: 1978; bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giam giữ từ ngày 12/7/2017 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Lò Văn Đ ( Bố đẻ bị cáo ), – SN: 1977, nơi cư trú: Bản Đ, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La ( Có mặt ).

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Văn Huấn – Luật sư, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Sơn La; địa chỉ: Số 18, đường Két Nước, tổ 8, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La ( Có mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 21 giờ 15 phút ngày 12/7/2017, tại khu vực tiểu khu 7, thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn la, tổ công tác Công an thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu, đã phát hiện bắt quả tang đối tượng Lò Văn L ( Sinh ngày 01 tháng 10 năm 2000; nơi cư trú: Bản Đ, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La ) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ của đối tượng là: 01 gói giấy màu trắng,có chữ viết bằng mực màu đỏ, bên trong có chứa một ít bột cục màu trắng ( TheoLong khai là Heroin ).

Kết quả cân tịnh số bột màu trắng thu giữ của đối tượng Lò Văn L, có trọng lượng 0,33 gam, rút 0,05 gam ký hiệu L1 làm mẫu vật gửi giám định, số còn lại 0,28 gam ký hiệu L2 đã niêm phong.

Tại bản Kết luận giám định số: 737/KLMT ngày 17/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu L1 gửi giám định là chất ma túy; loại chất Heroin; trọng lượng của mẫu gửi giám định là0,05 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 0,33 gam; loại chất Heroin.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, trước sự có mặt của người bào chữa, bị can Lò Văn L đã khai nhận như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 12/7/2017, Lò Văn L đi bộ từ nhà mình ( Bản Đ, xã C ) đến thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu, với mục đích tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân, khi tới tiểu khu 4, thị trấn Thuận Châu, thì gặp và mua được của một người đàn ông ( L không biết tên, tuổi, địa chỉ ) 01gói Heroin được gói bằng loại giấy bạc của bao thuốc lá Thăng Long, với giá 100.000đ ( Một trăm ngàn đồng ), Long cất gói Heroin trong túi quần lửng bên phải, đằng trước đang mặc, sau đó đi tìm địa điểm sử dụng ma túy và khi L di chuyển đến khu vực tiểu khu 7 thị trấn Thuận Châu, thì bị tổ công tác Công an thị trấn Thuận Châu, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt giữ cùng vật chứng là gói Heroin như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 142/KSĐT ngày 12/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Lò Văn L về Tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, giữ quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn L với tội danh và Điều khoản luật áp dụng như trên. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194 – điểm p khoản 1 Điều46 – khoản 2 Điều 46 - các Điều 69, 71, 74 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7 -  điểm c khoản 1Điều 249 BLHS năm 2015;

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo mức án từ 07 đến 10 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, theo quy định tại Điều 71 BLHS.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu hủy: Vật chứng là 0,28 gam Heroin.

Tại phiên tòa bị cáo người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên do bị cáo là người chưa thành niên phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo; có ông nội là người có công với cách mạng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật có lợi cho bị cáo để xét xử bị cáo mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo, nhất trí với nội dung phát biểu của luật sư bào chữa, không bổ sung ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Ngày 12/7/2017, bị cáo Lò Văn L ( Có căn cước lý lịch như trên ) đã bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ   trái phép chất ma túy ( 0,33 gam Heroin ). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo L sinh ngày 01/10/2000, tính đến thời điểm thực hiện hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, bị cáo có độ tuổi là 16 tuổi 9 tháng 11 ngày, tuy chưa là người thành niên, nhưng theo quy định tại Điều 12BLHS, thì bị cáo cũng đã là người nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện. Xét lời khai nhận của bị cáo ở giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ, kếtluận giám định, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủcăn cứ kết luận bị cáo Lò Văn L đã phạm vào tội: Tàng trữ  trái phép chất ma tuý, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.  Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 194 BLHS năm 1999 quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm ”.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi; Hành vi các bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Cụ thể hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước hết xâm hại đến chính sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển . . . trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần  phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Vận dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về tội phạm và hình phạt.

[4] Tình tiết tăng nặng: Không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ:  Xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội; ngoài ra bị cáo có ông nội là Lò Văn B được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Nên được xem xét áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46 BLHS.

[6] Xét tội tội danh bị cáo bị xét xử ( Tàng trữ trái phép chất ma túy ) thuộc trường hợp quy định tại: Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7 -  điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015; theo hướng xét xử có lợi cho các bị cáo bởi: So sánh mức hình phạt về cùng tội danh theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 ( Từ 02 năm đến 07 năm tù ) với điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Từ 01 năm đến 05  năm tù ), thì mức hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, là có lợi cho người phạm tội. Do vậy cần áp dụng các quy định pháp luật đã viện dẫn ở trên đối với các bị cáo.

[7] Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, do vậy cần áp dụng các quy định tại chương X của BLHS làm cơ sở quyết định hình phạt.

[8] Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ các bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 BLTTHS;

[9] Đối với hình phạt bổ sung ( Phạt tiền ), xét bị cáo là người chưa thành niên phạm tội và tại Điều 71 BLHS quy định “ Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; tù có thời hạn ”. Do vậy ngoài hình phạt tù, bị cáo không bị áp dụng thêm bất cứ hình phạt nào khác.

[10] Xử lý vật chứng:

- Đối với vật chứng là: 0,28 gam Heroin ( Số còn lại sau khi trích rút 0,05 gam gửi giám định ) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội đồng thời là vật nhà nước cấm lưu hành. Cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS; để tuyên tịch thu tiêu hủy.

[11] Đối với nguồn gốc 0,33 gam Heroin, theo các bị cáo khai do mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể tại khu vực tiểu khu 4, thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Xét ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ gì khác để chứng minh. Do vậy không có cơ sở để điều tra xử lý.

[12] Bị cáo thuộc hộ gia đình nghèo nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm,  theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12  Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

[13] Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

1. Về tội danh:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 194 – điểm p khoản 1 Điều 46 – khoản 2 Điều 46 -Điều 69, 71 và 74 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7 -  điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Xử phạt bị cáo Lò Văn L 10 ( Mười ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 12/7/2017 ( Ngày bắt giữ bị cáo ).

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tạm giam bị cáo trong hạn 45 ( Bốn mươi lăm ) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: Bột cục màu trắng là chất ma túy, loại chất Heroin có trọng lượng: 0,28 gam ( Không phẩy hai mươi tám gam ), ký hiệu L2, được niêm phong trong phong bì thư;

4. Án phí:

Áp dụng  điểm đ  khoản  1  Điều  12  Nghị  quyết  số  326/UBTVQH14  ngày30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

5. Quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự;

Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


139
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về