Bản án 131/2019/HS-ST ngày 30/12/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 131/2019/HS-ST NGÀY 30/12/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Đường B2, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2019/TLST-HS ngày 02 tháng12 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Phan Thị Nh, tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; sinh ngày: 07/9/1992 tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do.

Nơi cư trú: Thôn Bản Bo2, xã Minh Tân, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Chỗ ở: Tổ 25A, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Con bà: : Phan Thị Nh;

Chồng: Hoàng Văn Kh; sinh năm 1990. Đã ly hôn năm 2014 Tiền án: Không; tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Ch- Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lào Cai – có mặt

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Bá Mạ; Địa chỉ: Tổ 28, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

Anh:Trần Đức Q ; Trú tại thôn 2, xã Minh Quán, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ ngày 06/11/2019, bị cáo Phan Thị Nh một mình điều khiển xe đạp điện đi từ nơi trọ tổ 25 A phường Phố Mới, thành phố Lào Cai ra Ngã 6 phường Kim Tân để mua ma túy mục đích để bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo mua của một người nam giới không biết tên và địa chỉ 5 triệu đồng được 2 túi nilon màu trắng chứa các tinh thể rắn và 1 túi nilon màu trắng chứa 11 viên nén hình tròn màu nâu; 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng 07 viên nén hình tron màu nâu mang về để trong chiếc túi nilon màu đỏ giấu vào trong sọt rác đến ngày 07/11/2019 bị cáo lấy gói giấy màu trăng bên trong có 02 túi ma túy đá cất vào túi quần rồi nhờ anh Trần Đức Quỳnh chở lên Cầu Sập để gặp bạn, đi đến khu vực tổ 28, phường Duyên Hải Hải, thành phố lào Cai thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố Lào Cai kiểm tra, bị cáo tự giác giao nộp ma túy đang cất giấu. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng đúng quy định thu giữ của Phạm Thị Như:

01 chứng minh thư nhân dân mang tên Phạm Thị Như; 01 điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng có số IMEI1: 353293071624443; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng có số Xeri: 3553520422335501 và 01 xe máy điện không biển kiểm soát nhãn hiệu Nijia. Trước sự có mặt của anh Trần Đức Quỳnh và anh Nguyễn Bá Mạnh.

Cùng ngày tổ công tác đã khám xét nơi ở của bị cáo bị cáo đã tự giác giao nộp 01 túi nilon màu đỏ, bên trong gồm có 02 túi nilon màu trắng mỗi túi chứa lần lượt là 11 và 07 viên nén hình tròn, mầu nâu, trên một mặt của mỗi viên được dập chữ chìm “LV”; 01 cân điện tử màu đen, trên mặt cân có chữ “POCKETSCALE”;

01 túi nilon màu trắng bên trong có 15 túi nilon màu trắng chưa sử dụng.

Tại kết luận giám định số: 250/GĐMT ngày 14/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,76 gam các hạt tinh thể rắn, màu trắng gửi giám định là ma túy Methamphetamine. Không tìm thấy chất ma tuý trong 6,82 gam các viên nén hình tròn, màu nâu, trên một mặt của mỗi viên nén đều được dập chìm ký tự “LV”.

Cáo trạng số 129/KSĐT ngày 28/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Phan Thị Nh đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự .

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đề nghị tuyên bố bị cáo Phan Thị Nh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Nh từ 02 ( hai năm) đến 02 năm ( sáu) tháng tù.

Phạt bị cáo từ 5.000.000 (năm triệu đồng)đến 7.000.000 (bảy triệu đồng)sung công quỹ nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2; khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, do hoàn hoàn cảnh gia đình khó khăn, học hết lớp 9 nên trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Nh 02 (hai năm) tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng.

Ti phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thị Nh : Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Ngày 06/11/2019 bị cáo Phan Thị Nh đã đến xuống khu vực vòng xuyến ngã sáu, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai để mua ma túy đá về bán kiểm lời mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ)5.000.000đ (năm triệu đồng) được 02 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng được để trong một gói giấy màu trắng và 02 túi nilon màu trắng mỗi túi chứa lần lượt là 11 và 07 viên nén hình tròn, mầu nâu, trên một mặt của mỗi viên được dập chữ chìm “LV” về để bán. Ngày 07/11/2019 bị cáo Phan Thị Nh lấy 02 gói ma túy đá từ sọt rác, cất dấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi nhờ anh Trần Đức Quỳnh chở lên khu vực đầu Cầu Sập thuộc phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai để tìm người mua để bán. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Phan Thị Nh đang ngồi trên xe máy điện không biển kiểm soát do anh Trần Đức Quỳnh điều khiển đỗ trước cửa nhà nghỉ Xuân Dương thuộc tổ 28, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai thì bị tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy phát hiện bắt giữ cùng tang vật Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Phan Thị Nh đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng”, Bản thân bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo có tài sản tạm giữ. Hội đồng xét xử phạt 5 triệu đồng sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo.

Việc Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo 2 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là chưa thỏa đáng.

[6] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,76 gam bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng.Trích 0,16 gam còn lại 0,6 gam Methamphetamine được tái niêm phong đúng quy định của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai; và 5,3 gam các viên nén hình tròn đã giám định không phải là ma túy 01 túi nilon màu trắng bên trong có 15 túi nilon màu trắng chưa qua sử dụng. Xét thấy đây thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành và 01 cân điện tử màu đen, trên mặt cân có chữ “POCKETSCALE” vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.

Đi với 01 điện thoại di động hiệu Iphone số Imei 35329307162443, 01 điện thoại di động hiệu Nokia số Xeri 35535220422335501không liên quan đến vụ án nhưng bị cáo còn phải phải thi hành án tiền án phí và tiền phạt lên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

01 chứng minh thư mang tên Phan Thị Nh cần trả lại cho bị cáo.

[7] Đối với người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đi với Trần Đức Quỳnh là người Phan Thị Nh nhờ chở lên khu vực Cầu Sập. Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ việc Phan Thị Nh đem ma túy đi bán Quỳnh không biết và Phan Thị Nh cũng không nói cho Quỳnh biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Trần Đức Quỳnh là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình bắt giữ có tạm giữ của Phan Thị Nh 01 xe máy điện nhãn hiệu NiJia, không biển kiểm soát. Xác định đây là tài sản thuộc sở hữu riêng của Trần Đức Quỳnh nên cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức trả lại cho anh Quỳnh là phù hợp

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1; khoản 5 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố bị cáo Phan Thị Nh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Phan Thị Nh 02 (hai năm) 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/11/2019.

Phạt bị cáo 5.000.000 ( năm triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 ; khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng bên trong có 15 túi nilon màu trắng chưa qua sử dụng; 01 cân điện tử màu đen, trên mặt cân có chữ “POCKETSCALE”; 0,6 (không phẩy sáu) gam Methamphetamine; 5,3 gam các viên nén hình tròn được tái niêm phong đúng quy định của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì thư có ghi “vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Phan Thị Nh có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 07/11/2019 tại tổ 28, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” và tổ 25ª phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone số Imei 35329307162443, 01 điện thoại di động hiệu Nokia số Xeri 35535220422335501; Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 29/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai” để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh thư mang tên Phan Thị Nh

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phan Thị Nh phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặcbị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 131/2019/HS-ST ngày 30/12/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:131/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai - Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về