Bản án 120/2017/DS-ST ngày 13/12/2017 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 120/2017/DS-ST NGÀY 13/12/2017 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM HẠI 

Trong ngày 13 tháng 12 năm 2017 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 230/2017/TLST- DS ngày 17 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp bồi thường ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 462/2017/QĐXXST- DS ngày 22 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Hoàng - sinh năm 1955

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Khánh – sinh năm 1937

Cùng địa chỉ: ấp Tân Phong, xã Phong Điền, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Tại phiên tòa, các đương sự có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14-9-2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Hoàng trình bày:

Năm 1974 ông đã nhập ngủ và tham gia du kích ấp Đất Cháy, xã Phong Lạc (nay là xã Phong Điền), huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Ngày 23-12- 1976 , ông nhập ngũ vào đơn vị Tiểu đoàn U Minh II, tỉnh Minh Hải (nay là tỉnh Cà Mau). Tháng 1-1977 tham gia Binh Nhì Tiểu đoàn U Minh II ở Bình Hưng, Hải Yến Tắc Sậy. Tháng 8-1978 cán bộ liên lạc của Đại đội 4, tiểu đoàn 5, sư đoàn 339 tỉnh Bu Sát, Campuchia. Ngày 23-12-1979 về gia đình tiếp tục tham gia công tác xã Đội phó, xã Phong Điền. Năm 1990 được kết nạp vào Đảng. Nay ông là Hội viên Hội cựu chiến binh ấp Tân Phong.

Nay ông Nguyễn Văn khánh tố cáo ông không tham gia cách mạng cũng được kết nạp vào hội là súc phạm đến danh dự nhân phẩm của ông, là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Ông yêu cầu ông Khánh phải công khai xin lỗi trước nhân dân và bồi thường danh dự cho ông số tiền 13.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Khánh thừa nhận có làm đơn tố cáo ông Nguyễn Văn Hoàng. Tuy nhiên ông Khánh cho rằng ông Hoàng có tham gia chiến trường Campuchia nhưng không có tham gia kháng chiến chống Mỹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

 [3] Về nội dung tranh chấp: Theo đơn tố cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn Khánh cho rằng nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Hoàng không có tham gia cách mạng cũng được kết nạp vào hội. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị đơn thừa nhận nguyên đơn có tham gia chiến trường Campuchia nhưng không có tham gia kháng chiến chống Mỹ. Xét thấy lời khai của bị đơn tại phiên tòa và đơn tố cáo nguyên đơn là không có căn cứ. Bởi lẽ, tại biên bản xác minh ngày 08-8-2017 của Chi hội cựu chiến binh xã Phong Điền đối với nguyên đơn xác định: Năm 1974 - 1975 ông Nguyễn Văn Hoàng tham gia du kích tại ấp Đất Cháy, xã Phong Lạc (nay là xã Phong Điền). Năm 1976 - 1978 ông nhập ngũ chiến sĩ Tiểu đoàn U Minh 2. Năm 1978 - 1979 hạ sĩ đại đội 4, tiểu đoàn 5, sư đoàn 339 tỉnh Bu Sát, Campuchia. Năm 1979 ông phục viên về gia đình tiếp tục công tác ấp Tân Phong, xã Phong Điền cho đến nay. Năm 1990 nguyên đơn được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy, nguyên đơn có tham gia cách mạng trong thời gian dài là thực tế.

Hành vi tố cáo sai sự thật của bị đơn đối với nguyên đơn đến các cơ quan tỉnh Cà Mau (Đài truyền hình tỉnh Cà Mau, UBND tỉnh Cà Mau, Thanh tra tỉnh Cà Mau) đã xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Bộ luật dân sự “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”. Tại khoản 5 Điều 34 Bộ luật dân sự quy định “Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại”.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn công khai xin lỗi trước nhân dân ấp Tân Phong, xã Phong Điền là phù hợp với quy định pháp luật. Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bồi thường thiệt hại với số tiền

13.000.000 đồng thì thấy rằng: Bị đơn có hành vi tố cáo không đúng sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nguyên đơn là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, nguyên đơn không chứng minh được chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại cũng như thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Do đó, nguyên đơn chỉ được bồi thường thiệt hại một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần mà nguyên đơn gánh chịu. Mức bồi thường được chấp nhận là 02 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, tương đương số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) là phù hợp theo Điều 592 Bộ luật dân sự.

 [4] Án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 143, 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Các Điều 34, 584, 592 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

2. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông là Nguyễn Văn Hoàng.

- Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Khánh bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho nguyên đơn là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất phát sinh tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

- Buộc ông Nguyễn Văn Khánh phải công khai xin lỗi ông Nguyễn Văn Hoàng trước nhân dân tại ấp Tân Phong, xã Phong Điền, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn Khánh phải chịu300.000 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Án xử sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).


70
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về