- Từ 01/03/2026, nội dung về trí tuệ nhân tạo, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức công nghệ được tính hợp vào giáo dục phổ thông thế nào?
- Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực giáo dục phải quản lý rủi ro như thế nào?
- Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo được quy định thế nào?
Từ 01/03/2026, nội dung về trí tuệ nhân tạo, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức công nghệ được tính hợp vào giáo dục phổ thông thế nào?
Theo Điều 23 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 (có hiệu lực từ 01/03/2026) quy định phát triển nguồn nhân lực trí tuệ nhân tạo như sau:
Phát triển nguồn nhân lực trí tuệ nhân tạo
1. Nhà nước phát triển nguồn nhân lực trí tuệ nhân tạo theo hướng toàn diện, liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo, bảo đảm hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý trí tuệ nhân tạo.
2. Giáo dục phổ thông tích hợp nội dung cơ bản về trí tuệ nhân tạo, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức công nghệ vào chương trình bắt buộc; khuyến khích hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu và sáng tạo trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
3. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học được khuyến khích xây dựng chương trình đào tạo về trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và các chuyên ngành liên quan; khuyến khích hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế trong đào tạo, thực tập, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
4. Nhà nước triển khai Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo, bao gồm chính sách đào tạo, học bổng, thu hút và trọng dụng chuyên gia, phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và nhân lực quản lý trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
5. Tổ chức, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp tham gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo được hưởng cơ chế khuyến khích và ưu đãi theo quy định của pháp luật, đồng thời có trách nhiệm phối hợp trong đào tạo, nghiên cứu ứng dụng và thực hành nghề nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn.
6. Cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và trung tâm đổi mới sáng tạo có trách nhiệm hợp tác, chia sẻ tri thức và tham gia mạng lưới quốc gia, quốc tế về đào tạo, nghiên cứu và phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia về phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo, trong đó quy định tiêu chuẩn, công nhận chương trình đào tạo, cơ chế huy động nguồn lực và chính sách ưu đãi đối với tổ chức, cá nhân tham gia.
Theo đó, từ 01/03/2026 nội dung về trí tuệ nhân tạo, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức công nghệ được tính hợp vào giáo dục phổ thông tại chương trình bắt buộc; khuyến khích hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu và sáng tạo trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.

Từ 01/03/2026, nội dung về trí tuệ nhân tạo, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức công nghệ được tính hợp vào giáo dục phổ thông thế nào? (Hình từ Internet)
Thư Viện Pháp Luật vừa ra mắt AIGiaoDuc giúp học môn Giáo dục Công dân và Kinh tế & Pháp luật theo thực tế, dễ hiểu, có trắc nghiệm và bài giải gắn với đời sống.
Giáo dục Công dân - Kinh tế & Pháp luật là nền tảng giúp việc học tập của học sinh trở nên dễ dàng hơn, có trắc nghiệm và bài giải gắn với đời sống thực tế. Nền tảng dành cho: Học sinh THCS và THPT là đối tượng sử dụng chính, muốn học tập hiệu quả, bám sát chương trình nhà trường. Phụ huynh muốn đồng hành cùng con trong việc hiểu pháp luật và kiến thức kinh tế trong đời sống. Giáo viên cần công cụ hỗ trợ giảng dạy, ôn luyện và kiểm tra học sinh một cách khoa học. Link truy cập: https://aigiaoduc.thuvienphapluat.vn/ Quét QR để truy cập website
|
Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực giáo dục phải quản lý rủi ro như thế nào?
Căn cứ Điều 6 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 (có hiệu lực từ 01/03/2026) quy định như sau:
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các ngành, lĩnh vực
1. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các ngành, lĩnh vực phải tuân thủ nguyên tắc quản lý rủi ro theo quy định của Luật này và phù hợp với pháp luật có liên quan.
2. Đối với các lĩnh vực thiết yếu có tác động trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của con người hoặc trật tự, an toàn xã hội, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải được quản lý rủi ro ở mức độ chặt chẽ hơn, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực, trong đó bao gồm một số lĩnh vực sau đây:
a) Lĩnh vực y tế: bảo đảm an toàn cho người bệnh; độ tin cậy trong điều kiện sử dụng thực tế; bảo vệ dữ liệu về sức khỏe theo quy định của pháp luật;
b) Lĩnh vực giáo dục: bảo đảm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và sự phát triển của người học; phòng ngừa rủi ro trong đánh giá, phân loại và tác động đến người học; bảo đảm an toàn dữ liệu và quyền riêng tư.
3. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học phải bảo đảm tuân thủ đạo đức nghiên cứu, liêm chính khoa học và phòng ngừa hành vi gian lận, đạo văn trong quá trình nghiên cứu và công bố kết quả.
4. Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình quy định chi tiết yêu cầu về an toàn, quản lý rủi ro và điều kiện triển khai đối với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành, lĩnh vực quản lý, bảo đảm phù hợp với quy định của Luật này.
Theo đó, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực giáo dục phải được quản lý rủi ro ở mức độ chặt chẽ hơn, phù hợp với đặc thù của lĩnh vực giáo dục.
Cụ thể việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực giáo dục phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và sự phát triển của người học; phòng ngừa rủi ro trong đánh giá, phân loại và tác động đến người học; bảo đảm an toàn dữ liệu và quyền riêng tư.
Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo được quy định thế nào?
Theo Điều 8 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 (có hiệu lực từ 01/03/2026) quy định Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo như sau:
(1) Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo là nền tảng số được thiết lập nhằm hỗ trợ việc tiếp nhận, đăng ký tham gia thử nghiệm có kiểm soát; tiếp nhận thông báo kết quả phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo, báo cáo sự cố nghiêm trọng và báo cáo định kỳ; công khai thông tin về hệ thống trí tuệ nhân tạo, kết quả đánh giá sự phù hợp, kết quả xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật và kết nối các chương trình hỗ trợ, quỹ, hạ tầng, dữ liệu dùng chung.
(2) Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo được xây dựng, quản lý thống nhất để phục vụ quản lý, giám sát và công khai thông tin về hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của pháp luật.
(3) Việc công khai, kết nối và chia sẻ dữ liệu trên cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và dữ liệu cá nhân.
(4) Chính phủ quy định chi tiết cơ chế vận hành, quản lý, khai thác cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo.
- Luật Trí tuệ nhân tạo
- Trí tuệ nhân tạo
- Kỹ năng số
- Giáo dục phổ thông
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo
- Hệ thống trí tuệ nhân tạo
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực giáo dục
- Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo
- Phổ thông
- Giáo dục công dân
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];
