- Việc ra quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can phạm nhiều tội khác nhau được thực hiện ra sao?
- Trong quyết định khởi tố bị can nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên có trách nhiệm gì?
- Trong quá trình thực hành quyền công tố nếu thấy quyết định khởi tố bị can còn có hành vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì Kiểm sát viên có trách nhiệm gì?
Việc ra quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can phạm nhiều tội khác nhau được thực hiện ra sao?
Căn cứ khoản 6 Điều 9 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP hướng dẫn Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:
Khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
...
6. Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, bổ sung quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội, được thực hiện như sau:
a) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các lần phạm tội đó. Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó;
b) Nếu tại một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;
c) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau mà hành vi phạm tội trước là để thực hiện hành vi phạm tội sau hoặc các hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;
d) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;
đ) Khi phát hiện bị can phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát cùng cấp để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.
...
Trong trường hợp bị can phạm nhiều tội việc ra quyết định khởi tố khởi tố bị can được quy định như sau:
(1) Nếu tại một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;
(2) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau mà hành vi phạm tội trước là để thực hiện hành vi phạm tội sau hoặc các hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự hiện hành được áp dụng;
(3) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự hiện hành được áp dụng;
(4) Khi phát hiện bị can phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát cùng cấp để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.
Tại khoản 6 Điều 9 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSTC-BCA-BQP quy định việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, bổ sung quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội, được thực hiện như sau:
- Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các lần phạm tội đó. Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó.
Ví dụ 1: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T làm rõ: Từ tháng 01/2025 đến tháng 3/2025, Nguyễn Văn A đã thực hiện 05 hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại địa bàn phường H, tỉnh T. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại phường H và ra 01 quyết định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” đối với Nguyễn Văn A về 05 hành vi trộm cắp tài sản.
Ví dụ 2: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản nêu tại Ví dụ 1 trên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại phường M, tỉnh T. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án về hành vi trộm cắp tài sản xảy tại phường M để tiến hành điều tra;
- Nếu tại một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội giết người, cướp tài sản tại phường H, tỉnh T thì bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Giết người” và “Cướp tài sản”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 123, Điều 168 của Bộ luật Hình sự;
- Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau mà hành vi phạm tội trước là để thực hiện hành vi phạm tội sau hoặc các hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Để thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Văn A đã thực hiện hành vi phạm tội làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức để bị hại tin tưởng, chuyển tiền cho Nguyễn Văn A. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 174, Điều 341 của Bộ luật Hình sự;
- Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tháng 02/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh T. Trường hợp này, Cơ quan điều tra tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 174, Điều 175 của Bộ luật Hình sự;
- Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.
Ví dụ: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn A về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra hình sự khu vực, Quân khu T phát hiện Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự (thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T). Trường hợp này, Cơ quan điều tra hình sự khu vực phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát quân sự khu vực có thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T tiến hành điều tra;
- Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội, trong đó có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra, có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra mà nếu tách vụ án để điều tra theo thẩm quyền sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của vụ án, thì Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền đánh giá, xác định tội phạm nào là tội phạm chính. Tội phạm chính thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra nào thì Cơ quan điều tra đó tiến hành điều tra toàn bộ vụ án.
Trong quyết định khởi tố bị can nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên có trách nhiệm gì?

Trong quyết định khởi tố bị can nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên có trách nhiệm gì? (hình ảnh từ Internet)
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 Quyết định 111/QĐ-VKSTC năm 2020 quy định như sau:
Xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
1. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố bị can để xử lý như sau:
b) Nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi tố. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
Kiểm sát viên có thể phối hợp với Điều tra viên thụ lý vụ án để lấy lời khai người bị khởi tố, người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can. Đối với những trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị khởi tố lúc nhận tội, lúc không nhận tội, tài liệu, chứng cứ có mâu thuẫn hoặc chưa rõ, thì trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị khởi tố. Biên bản ghi lời khai những người này được chuyển cho cơ quan đã ra quyết định khởi tố để đưa vào hồ sơ vụ án;
...
Theo đó, trong quyết định khởi tố bị can nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên có trách nhiệm:
- Yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi tố.
- Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
- Có thể phối hợp với Điều tra viên thụ lý vụ án để lấy lời khai người bị khởi tố, người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
Tại khoản 1 Điều 42 Quyết định 06/2026/QĐ-VKSTC quy định trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can và hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn của cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố bị can để xử lý như sau:
Nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi tố. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
Kiểm sát viên có thể phối hợp với Điều tra viên, Cán bộ điều tra để lấy lời khai người bị khởi tố, người làm chứng, bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
Đối với những trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị khởi tố lúc nhận tội, lúc không nhận tội, tài liệu, chứng cứ có mâu thuẫn hoặc chưa rõ thì trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị khởi tố. Biên bản ghi lời khai được chuyển cho cơ quan đã ra quyết định khởi tố để đưa vào hồ sơ vụ án.
Trong quá trình thực hành quyền công tố nếu thấy quyết định khởi tố bị can còn có hành vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì Kiểm sát viên có trách nhiệm gì?
Căn cứ khoản 2 Điều 46 Quyết định 111/QĐ-VKSTC năm 2020 quy định như sau:
Xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
...
2. Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy quyết định khởi tố bị can ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can, hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác hoặc còn có hành vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can theo quy định tạikhoản 3 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can; trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung, Viện kiểm sát xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
...
Chiếu theo quy định này, trong quá trình thực hành quyền công tố nếu thấy quyết định khởi tố bị can còn có hành vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì Kiểm sát viên có trách nhiệm:
- Báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
- Nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can theo quy định tại khoản 3 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tại khoản 2 Điều 42 Quyết định 06/2026/QĐ-VKSTC quy định trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy quyết định khởi tố bị can ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can; bị can phạm vào tội khác với tội đã bị khởi tố hoặc còn có hành vi phạm tội khác với tội đã khởi tố thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định theo quy định tại khoản 3 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên kiểm tra tài liệu, chứng cứ và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can; trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung, Viện kiểm sát xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];