Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng khi nào?

Trịnh Kim Quốc Dũng 1,107 lượt xem
16:46 | 31/05/2025
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng khi nào? Tổ chức tín dụng khi thực hiện bảo lãnh bằng ngoài tệ cho khách hàng là người không cư trú phải đáp ứng điều kiện nào?
Nội dung chính
  1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng khi nào?
  2. Tổ chức tín dụng khi thực hiện bảo lãnh bằng ngoài tệ cho khách hàng là người không cư trú phải đáp ứng điều kiện nào?
  3. Tổ chức tín dụng có những hình thức pháp lý nào?

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng khi nào?

Căn cứ theo khoản 2 Điều 4 Thông tư 61/2024/TT-NHNN có quy định về quản lý ngoại hối trong bảo lãnh như sau:

Quy định về quản lý ngoại hối trong bảo lãnh
1. Việc phát hành bảo lãnh bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải phù hợp với phạm vi hoạt động ngoại hối trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế được quy định tại giấy phép hoạt động của từng loại hình tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng đối với nghĩa vụ tài chính bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo quy định thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng đối với nghĩa vụ tài chính bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật.

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng khi nào?

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng khi nào? (Hình từ Internet)

Tổ chức tín dụng khi thực hiện bảo lãnh bằng ngoài tệ cho khách hàng là người không cư trú phải đáp ứng điều kiện nào?

Căn cứ theo khoản 3 Điều 12 Thông tư 61/2024/TT-NHNN có quy định về hoạt động bảo lãnh đối với khách hàng là người không cư trú như sau:

Bảo lãnh đối với khách hàng là người không cư trú
1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được bảo lãnh cho khách hàng tổ chức là người không cư trú và phải đáp ứng một trong những yêu cầu sau (khách hàng là tổ chức tín dụng ở nước ngoài không phải đáp ứng yêu cầu này):
a) Khách hàng là tổ chức kinh tế thành lập và hoạt động tại nước ngoài có vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam dưới hình thức đầu tư quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 52 Luật Đầu tư hoặc dưới hình thức đầu tư khác quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 52 Luật Đầu tư;
b) Khách hàng ký quỹ đủ 100% giá trị bảo lãnh hoặc có bảo đảm đủ 100% giá trị bảo lãnh bằng tài sản của khách hàng gồm số dư tiền gửi tại chính tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh và chứng chỉ tiền gửi của chính tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh;
c) Bên nhận bảo lãnh là người cư trú.
2. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được bảo lãnh bằng ngoại tệ đối với khách hàng tổ chức là người không cư trú, trừ trường hợp bên nhận bảo lãnh là người cư trú.
3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng là người không cư trú phải:
a) Tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ bảo lãnh cho người không cư trú;
b) Có quy trình đánh giá, quản lý rủi ro tín dụng, trong đó có rủi ro trong bảo lãnh đối với người không cư trú.
4. Ngoài các quy định tại Điều này, các nội dung khác về việc bảo lãnh đối với khách hàng là người không cư trú phải thực hiện theo quy định tương ứng tại Thông tư này.

Như vậy, tổ chức tín dung, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ cho khách hàng là người không cư trú phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ bảo lãnh cho người không cư trú;

- Có quy trình đánh giá, quản lý rủi ro tín dụng, trong đó có rủi ro trong bảo lãnh đối với người không cư trú.

Tổ chức tín dụng có những hình thức pháp lý nào?

Căn cứ theo Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 có quy định về các hình thức pháp lý của tổ chức tín dụng như sau:

Theo đó, hình thức pháp lý của tổ chức tín dụng được pháp luật quy định, cụ thể như sau:

(1) Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, trừ trường hợp quy định tại mục (2) và trường hợp thực hiện phương án chuyển giao bắt buộc được phê duyệt.

(2) Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

(3) Tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.

(4) Tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.

(5) Ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã.

(6) Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.

Logo Thư viện Pháp luật
Trịnh Kim Quốc Dũng Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Tiền tệ - Ngân hàng Xem thêm

Pháp luật
Thông tư 47/2026/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 41/2024/TT-NHNN về giám sát hệ thống thanh toán có nội dung nào?

Nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 41/2024/TT-NHNN quy định về giám sát và thực hiện giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng, hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nêu rõ tại Thông tư 47/2026/TT-NHNN cụ thể như sau:

Bài viết mới nhất