Tổ chức tiếp công dân đột xuất trong những trường hợp nào? Khi nào phải tiếp công dân đột xuất?
Căn cứ theo khoản 3 Điều 13 Thông tư 131/2026/TT-BCA quy định về các trường hợp phải tổ chức tiếp công dân đột xuất như sau:
Tiếp công dân trực tiếp
...
3. Tổ chức tiếp công dân đột xuất
a) Người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này ngoài việc tiếp công dân định kỳ, phải tiếp công dân đột xuất khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Vụ việc phức tạp, có nhiều người tham gia, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn khác nhau;
Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nếu không được chỉ đạo, xem xét kịp thời có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến an ninh, trật tự hoặc gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân; xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe công dân;
Tiếp công dân theo yêu cầu của cấp trên;
b) Việc tiếp công dân đột xuất được thực hiện bằng hình thức trực tiếp. Trường hợp đủ điều kiện theo quy định tại Điều 5 Thông tư này thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này quyết định tiếp công dân bằng hình thức trực tuyến.
Như vậy, các trường hợp phải tổ chức tiếp công dân đột xuất bao gồm:
- Vụ việc phức tạp, có nhiều người tham gia, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn khác nhau;
- Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nếu không được chỉ đạo, xem xét kịp thời có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến an ninh, trật tự hoặc gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân; xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe công dân;
- Tiếp công dân theo yêu cầu của cấp trên.

Tổ chức tiếp công dân đột xuất trong những trường hợp nào? Khi nào phải tiếp công dân đột xuất? (Hình từ Internet)
>>> Trường hợp nào từ chối tiếp công dân từ 1/7/2026? Khi nào từ chối tiếp công dân theo Nghị định 154?
Quy trình tiếp công dân trực tiếp được thực hiện như thế nào?
Căn cứ theo Điều 14 Thông tư 131/2026/TT-BCA quy định về quy trình tiếp công dân trực tiếp như sau:
(1) Khi có người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm đón tiếp, xác định nhân thân của người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh: khi tiếp người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, cán bộ được phân công thu thập thông tin về họ tên, địa chỉ, căn cước, căn cước công dân hoặc giấy chứng nhận căn cước hoặc số hộ chiếu hoặc tài khoản định danh điện tử trên ứng dụng VNeID; trường hợp được người khiếu nại ủy quyền thì phải có văn bản ủy quyền hợp pháp; ghi sổ cấp số thứ tự lượt tiếp theo quy định; cập nhật thông tin người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh vào Hệ thống thông tin phục vụ quản lý hoạt động thanh tra Công an nhân dân khi đảm bảo điều kiện về hạ tầng, công nghệ thông tin; giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của công dân theo quy định của pháp luật.
(2) Cán bộ tiếp công dân giải thích quyền, nghĩa vụ của công dân khi thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và đề nghị công dân cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật.
(3) Trường hợp chưa có đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì cán bộ tiếp công dân hướng dẫn công dân viết đơn. Trường hợp không thể tự viết đơn thì cán bộ tiếp công dân ghi lại đầy đủ, chính xác nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh bằng văn bản và yêu cầu công dân ký xác nhận hoặc điểm chỉ. Trường hợp nội dung trình bày chưa rõ ràng, đầy đủ thì cán bộ tiếp công dân đề nghị công dân trình bày bổ sung hoặc cung cấp các thông tin, tài liệu, chứng cứ để chứng minh.
(4) Trường hợp nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nhau thì cán bộ tiếp công dân hướng dẫn công dân viết thành đơn riêng gửi đến đúng cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
(5) Trường hợp khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cùng cấp thì cán bộ tiếp công dân tiếp nhận đơn và các thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan để xử lý theo quy định của pháp luật.
(6) Trường hợp khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cùng cấp thì cán bộ tiếp công dân hướng dẫn công dân gửi đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
(7) Trường hợp khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cấp dưới trực tiếp, nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết thì cán bộ tiếp công dân tiếp nhận đơn, báo cáo thủ trưởng cùng cấp giải quyết hoặc đề nghị thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
(8) Sau khi tiếp nhận đơn và thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, cán bộ tiếp công dân phải kiểm tra tính hợp lệ của các thông tin, tài liệu, chứng cứ và phải lập giấy biên nhận về việc tiếp nhận theo Mẫu 02/TCD ban hành kèm theo Nghị định số 154/2026/NĐ-CP, có chữ ký của cán bộ tiếp nhận. Giấy biên nhận được lập thành hai bản, giao cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh giữ một bản, ghi thông tin vào sổ tiếp công dân hoặc cập nhật vào Hệ thống thông tin phục vụ quản lý hoạt động thanh tra Công an nhân dân khi đảm bảo điều kiện về hạ tầng, công nghệ thông tin.
Các nguyên tắc khi tiếp công dân là gì?
Căn cứ theo Điều 3 Thông tư 131/2026/TT-BCA quy định về các nguyên tắc tiếp công dân như sau:
(1) Việc tiếp công dân phải tuân thủ quy định của Luật Tiếp công dân 2013, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tiếp công dân 2013, Thông tư 131/2026/TT-BCA và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
(2) Việc tiếp công dân phải được tiến hành tại địa điểm tiếp công dân của Công an các cấp. Trường hợp tiếp công dân trực tuyến phải đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, dữ liệu theo quy định của pháp luật; dữ liệu về tiếp công dân trực tuyến phải được thu thập, lưu trữ, bảo mật và khai thác theo quy định của pháp luật về an ninh mạng, pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật về lưu trữ.
(3) Bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo theo quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, bình đẳng, không phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân.
(4) Tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];